Đọc tên quẻ thế nào: "Thủy Lôi Truân" là trên Thủy dưới Lôi, mẹo nhớ 64 tên trong một tuần

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc

Đọc tên quẻ thế nào: "Thủy Lôi Truân" là trên Thủy dưới Lôi, mẹo nhớ 64 tên trong một tuần

Tên đầy đủ một quẻ Kinh Dịch đọc theo thứ tự: chữ thứ nhất là tượng của quẻ trên, chữ thứ hai là tượng của quẻ dưới, phần còn lại là tên quẻ. "Thủy Lôi Truân" là quẻ Truân, nước (Khảm) ở trên, sấm (Chấn) ở dưới. Biết tám tượng và quy tắc này, bạn đọc được nửa ý của bất kỳ quẻ nào trước khi mở sách.

Phần quy tắc cơ bản đã có trong bài bảng 64 quẻ. Bài này đi vào chỗ người học hay vấp khi thật sự ngồi học thuộc: những tên trùng âm, cách tra ngược từ tên ra hình, hai bài ca của Chu Hy, và một lịch bảy ngày để nhớ cả 64 tên.

Ba phần của một tên quẻ

Lấy ba ví dụ có độ dài khác nhau:

Tên đầy đủQuẻ trênQuẻ dướiTên quẻGọi tắt
Thủy Lôi TruânThủy = KhảmLôi = ChấnTruânTruân
Lôi Trạch Quy MuộiLôi = ChấnTrạch = ĐoàiQuy MuộiQuy Muội
Thuần KhảmKhảmKhảmKhảmKhảm (sách cũ: Tập Khảm)

Tám tượng dùng trong tên là: Thiên (Càn, trời), Trạch (Đoài, đầm), Hỏa (Ly, lửa), Lôi (Chấn, sấm), Phong (Tốn, gió), Thủy (Khảm, nước), Sơn (Cấn, núi), Địa (Khôn, đất). Thứ tự vừa kể không ngẫu nhiên: đó là thứ tự số Tiên Thiên từ 1 đến 8 mà Mai Hoa Dịch Số dùng để lập quẻ. Thuộc tám tượng theo đúng thứ tự này thì sau đổi sang lập quẻ Mai Hoa theo số không phải học lại.

Hai điều cần nhớ ngay từ đầu. Thứ nhất, tên đọc từ trên xuống, nhưng hào đếm từ dưới lên; hào 1 của Truân là vạch dưới cùng của Chấn. Thứ hai, khi một quẻ đơn chồng lên chính nó thì không gọi "Thủy Thủy Khảm" mà gọi "Thuần Khảm"; tám quẻ như vậy được bàn ở bài tám quẻ thuần.

Những chỗ trùng âm làm người mới lạc

Tiếng Việt đọc chữ Hán bằng âm Hán Việt, mà nhiều chữ khác nhau lại cùng một âm hoặc chỉ khác dấu. Khi học tên quẻ, đây là năm chỗ hay nhầm nhất:

  • Phong là gió hay là thịnh? Trong "Phong Thiên Tiểu Súc", chữ Phong đứng đầu là tượng gió (風, quẻ Tốn). Trong "Lôi Hỏa Phong", chữ Phong đứng cuối là tên quẻ 豐, nghĩa là thịnh lớn. Quy tắc vị trí giải quyết được: chữ ở vị trí một, hai là tượng; chữ ở cuối là tên.
  • Càn và Cấn khi viết không dấu. "Thuần Càn" (quẻ 1, trời) và "Thuần Cấn" (quẻ 52, núi) viết không dấu đều thành "thuan can". Trên mạng, trong tên tệp, trong danh sách tin nhắn, hai quẻ này rất hay bị lẫn. Luôn ghi kèm số thứ tự.
  • Ly và Lý. Thuần Ly (30) là lửa, bám vào; Thiên Trạch Lý (10) là giẫm, đi theo lễ.
  • Tỷ, Bĩ, Bí. Thủy Địa Tỷ (8) là gần gũi; Thiên Địa Bĩ (12) là bế tắc; Sơn Hỏa Bí (22) là trang sức.
  • Tùy và Tụy, Khốn và Khôn, Tiệm và Tấn. Trạch Lôi Tùy (17) là theo, Trạch Địa Tụy (45) là tụ họp; Trạch Thủy Khốn (47) là cùng quẫn, Thuần Khôn (2) là đất; Phong Sơn Tiệm (53) là tiến dần, Hỏa Địa Tấn (35) là tiến lên.

Một số tên còn bị đọc lệch theo nghĩa hiện đại (Vô Vọng thành "hết hy vọng", Độn thành "đần độn"); những trường hợp đó có bài riêng: quẻ có tên dễ hiểu lầm.

Bảng tra ngược: từ tên ra số quẻ

Bảng 8×8 trong bài bảng 64 quẻ được sắp để tra khi vừa gieo xong (biết ba hào dưới, ba hào trên). Bảng dưới đây sắp theo chiều ngược lại, để tra khi nghe một cái tên: chữ thứ nhất của tên tìm ở cột đầu, chữ thứ hai tìm ở hàng đầu.

Chữ thứ nhất (trên) ↓ / Chữ thứ hai (dưới) →ThiênTrạchHỏaLôiPhongThủySơnĐịa
Thiên1 Càn10 Lý13 Đồng Nhân25 Vô Vọng44 Cấu6 Tụng33 Độn12 Bĩ
Trạch43 Quải58 Đoài49 Cách17 Tùy28 Đại Quá47 Khốn31 Hàm45 Tụy
Hỏa14 Đại Hữu38 Khuê30 Ly21 Phệ Hạp50 Đỉnh64 Vị Tế56 Lữ35 Tấn
Lôi34 Đại Tráng54 Quy Muội55 Phong51 Chấn32 Hằng40 Giải62 Tiểu Quá16 Dự
Phong9 Tiểu Súc61 Trung Phu37 Gia Nhân42 Ích57 Tốn59 Hoán53 Tiệm20 Quan
Thủy5 Nhu60 Tiết63 Ký Tế3 Truân48 Tỉnh29 Khảm39 Kiển8 Tỷ
Sơn26 Đại Súc41 Tổn22 Bí27 Di18 Cổ4 Mông52 Cấn23 Bác
Địa11 Thái19 Lâm36 Minh Di24 Phục46 Thăng7 Sư15 Khiêm2 Khôn

Bảng được sinh từ dữ liệu 64 quẻ của site rồi đối chiếu với bảng gieo quẻ: mỗi ô ở đây phải trùng với ô đối xứng qua đường chéo bên bảng kia. Đọc một hàng là đọc tám quẻ có cùng quẻ trên: hàng Thủy cho thấy cả tám quẻ có nước ở trên, từ Nhu (mây trên trời, chờ mưa) đến Tỷ (nước trên đất, thấm vào nhau).

Tên quẻ thường tả đúng hình quẻ

Mẹo nhớ tốt nhất không phải học vẹt mà là nhìn ra vì sao quẻ có tên ấy. Khá nhiều tên tả hình sáu vạch:

QuẻHìnhVì sao tên như vậy
Di (27)vạch liền trên cùng và dưới cùng, bốn vạch đứt ở giữanhư cái miệng há, hàm trên hàm dưới; Di là nuôi, là miệng ăn
Phệ Hạp (21)như Di, nhưng có một vạch liền chắn ở hào 4miệng có vật chắn giữa, phải cắn đứt; Thoán truyện: "Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp"
Đỉnh (50)vạch đứt dưới cùng, ba vạch liền giữa, vạch đứt, vạch liền trênchân vạc, thân vạc, tai vạc, quai vạc
Đại Quá (28)bốn vạch liền giữa, hai vạch đứt hai đầuđòn nóc nặng ở giữa, yếu hai đầu nên cong oằn
Tiểu Quá (62)hai vạch liền giữa, hai vạch đứt mỗi bêncon chim, thân ở giữa, hai cánh hai bên; lời quẻ: "phi điểu di chi âm"
Bác (23)năm vạch đứt, một vạch liền trên cùngnăm âm đã bào mòn lên tận đỉnh
Phục (24)một vạch liền dưới cùng, năm vạch đứtmột dương trở lại từ dưới
Sư (7)một vạch liền ở hào 2, năm vạch đứtmột vị tướng giữa đám đông

Hệ Từ hạ còn có một đoạn kể các vua thời thượng cổ lấy hình quẻ để chế đồ dùng, đại ý: Bao Hy làm lưới đánh cá lấy ý ở quẻ Ly, Thần Nông làm cày lấy ý ở quẻ Ích, lập chợ giữa ngày lấy ý ở quẻ Phệ Hạp, đóng thuyền làm mái chèo lấy ý ở quẻ Hoán. Người hiện đại không cần tin đó là lịch sử thật, nhưng đọc đoạn ấy giúp nhớ tên quẻ gắn với một vật cụ thể.

Hai bài ca của Chu Hy

Chu Hy đời Tống in ở đầu Chu Dịch Bản Nghĩa hai bài ca để học trò nhớ. Bài thứ nhất nhớ hình tám quẻ đơn:

Càn tam liên, Khôn lục đoạn; Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển; Ly trung hư, Khảm trung mãn; Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.

Càn ba vạch liền, Khôn sáu đoạn (ba vạch đứt); Chấn như cái chậu ngửa (một vạch liền ở đáy), Cấn như cái bát úp (một vạch liền ở trên); Ly rỗng giữa, Khảm đặc giữa; Đoài khuyết trên, Tốn đứt dưới.

Bài thứ hai nhớ thứ tự 64 quẻ Văn Vương, theo bản thông dụng:

Càn Khôn Truân Mông Nhu Tụng Sư, Tỷ Tiểu Súc hề Lý Thái Bĩ, Đồng Nhân Đại Hữu Khiêm Dự Tùy, Cổ Lâm Quan hề Phệ Hạp Bí, Bác Phục Vô Vọng Đại Súc Di, Đại Quá Khảm Ly tam thập bị.

Hàm Hằng Độn hề cập Đại Tráng, Tấn dữ Minh Di Gia Nhân Khuê, Kiển Giải Tổn Ích Quải Cấu Tụy, Thăng Khốn Tỉnh Cách Đỉnh Chấn kế, Cấn Tiệm Quy Muội Phong Lữ Tốn, Đoài Hoán Tiết hề Trung Phu chí, Tiểu Quá Ký Tế kiêm Vị Tế, thị vi Hạ Kinh tam thập tứ.

Đoạn đầu là 30 quẻ Thượng Kinh ("tam thập bị", đủ ba mươi), đoạn sau là 34 quẻ Hạ Kinh ("thị vi Hạ Kinh tam thập tứ"). Các chữ "hề", "cập", "dữ", "kế", "chí", "kiêm" chỉ là chữ đệm cho đủ nhịp, không phải tên quẻ. Đọc to vài lần mỗi ngày, sau một tuần bạn đọc trôi được thứ tự cả 64 quẻ, như trẻ con thuộc bảng cửu chương. Vì sao Kinh chia đúng chỗ ấy, xem bài Thượng Kinh, Hạ Kinh.

Lịch bảy ngày để nhớ 64 tên

Lịch dưới chia việc theo hàng của bảng tra ngược (cùng quẻ trên), ghép hai hàng có quẻ trên ngược nhau vào một ngày, để mỗi ngày bạn học 14 quẻ mới mà vẫn thấy được thế đối.

NgàyHọc gìSố quẻ mớiCách ôn
1tám quẻ đơn: hình, tượng, bài ca "Càn tam liên"0vẽ tám hình bằng tay, đọc tên theo thứ tự Thiên, Trạch, Hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, Địa
2tám quẻ thuần (đường chéo của bảng)8nói tên khi nhìn hình, vẽ hình khi nghe tên
3hàng Thiên và hàng Địa14để ý cặp đảo trên dưới: Thiên Địa Bĩ và Địa Thiên Thái
4hàng Thủy và hàng Hỏa14để ý Thủy Hỏa Ký Tế và Hỏa Thủy Vị Tế
5hàng Lôi và hàng Phong14để ý Lôi Phong Hằng và Phong Lôi Ích
6hàng Sơn và hàng Trạch14để ý Sơn Trạch Tổn và Trạch Sơn Hàm
7bài ca thứ tự Văn Vương, đọc từng cặp quẻ lẻ chẵn0gieo thử mười quẻ bằng công cụ, tự gọi tên trước khi xem đáp án

Tổng cộng 8 + 14 × 4 = 64. Ngày thứ bảy là ngày quan trọng nhất: gieo thử để luyện phản xạ "nhìn hình ra tên". Công cụ gieo quẻ của site in hình sáu hào trước rồi mới hiện tên, rất hợp cho việc tự kiểm.

Sách cổ nói gì

Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp.

Trong miệng có vật, gọi là Phệ Hạp. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Phệ Hạp

Bình: câu này cho thấy người soạn Thoán truyện đọc tên quẻ từ hình quẻ: hình Di (miệng) thêm một vạch liền ở giữa thành cái miệng có vật chắn. Đây là bằng chứng sớm nhất cho lối "nhìn hình hiểu tên" mà bài khuyên dùng.

Càn tam liên, Khôn lục đoạn; Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển; Ly trung hư, Khảm trung mãn; Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.

— Chu Hy, Chu Dịch Bản Nghĩa, Bát quái thủ tượng ca

Bình: Chu Hy là nhà Nho nghiêm cẩn bậc nhất đời Tống, vậy mà vẫn soạn bài ca cho học trò thuộc lòng. Ông coi việc nhớ hình quẻ là bước bắt buộc, không phải chuyện nhỏ. Người học hôm nay không cần ngại học thuộc.

Đọc cho đúng mức

Tên đầy đủ ba bốn chữ là lối gọi về sau. Kinh văn chỉ ghi tên quẻ (Truân, Mông, Khiêm…). Lối gọi "Thủy Lôi Truân" kèm tượng hai quẻ đơn là cách gọi thông dụng của người học đời sau, rất tiện nhưng không có trong bản kinh.

Bài ca thứ tự có dị bản nhỏ. Bản chép bài ca của Chu Hy ở các sách in khác nhau đôi chỗ ở chữ đệm. Tên quẻ và thứ tự thì thống nhất, có thể tự kiểm bằng bảng số trong bài.

Mẹo "tên tả hình" không áp cho mọi quẻ. Khoảng một phần ba số quẻ có tên dễ nối với hình; phần còn lại tên đến từ ý của lời quẻ hoặc hai quẻ đơn. Đừng ép mọi tên vào một hình ảnh.

Biết tên không phải là biết quẻ. Thuộc 64 tên là bước một; hiểu một quẻ cần đọc lời quẻ, Đại Tượng và sáu hào.

Việc nên làm

  • Học tám tượng theo thứ tự Thiên, Trạch, Hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, Địa trước mọi thứ khác.
  • Khi ghi chép, luôn viết số thứ tự cạnh tên quẻ để tránh nhầm Càn với Cấn, Ly với Lý.
  • In bảng tra ngược ra một trang, dán ở chỗ hay ngồi học trong tuần đầu.
  • Đọc to bài ca thứ tự của Chu Hy mỗi sáng, đến ngày thứ bảy thử đọc không nhìn.
  • Làm đúng lịch bảy ngày, và dùng ngày cuối để gieo thử, gọi tên trước khi xem.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Hy, Chu Dịch Bản Nghĩa: Bát quái thủ tượng ca và Thượng hạ kinh quái danh thứ tự ca (trích nguyên văn theo bản thông dụng).
  • Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Phệ Hạp (trích nguyên văn); lời quẻ Tiểu Quá (trích nguyên văn bốn chữ).
  • Chu Dịch, Hệ Từ truyện hạ, đoạn chế khí thượng tượng (dẫn đại ý).
  • Bảng tra ngược sinh từ dữ liệu 64 quẻ của aihuyenhoc.com, đối chiếu với lưới gieo quẻ.

Câu hỏi thường gặp

"Thủy Lôi Truân" đọc thế nào?

Thủy là tượng quẻ trên (Khảm, nước), Lôi là tượng quẻ dưới (Chấn, sấm), Truân là tên quẻ. Đây là quẻ số 3, nước ở trên, sấm ở dưới.

Vì sao chữ "Phong" lúc là gió lúc là tên quẻ?

Vì hai chữ Hán khác nhau cùng đọc là Phong: 風 (gió, tượng quẻ Tốn) và 豐 (thịnh lớn, tên quẻ 55). Chữ ở vị trí đầu hoặc thứ hai là tượng, chữ ở cuối là tên.

Học thuộc 64 quẻ mất bao lâu?

Nếu đã thuộc tám quẻ đơn, khoảng một tuần là nhớ được tên và hình cả 64 quẻ: hai ngày cho quẻ đơn và quẻ thuần, bốn ngày cho bốn cặp hàng của bảng tra, một ngày ôn.

Bài ca "Càn tam liên, Khôn lục đoạn" của ai?

Đó là Bát quái thủ tượng ca in ở đầu Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy đời Tống, dùng để nhớ hình tám quẻ đơn.

Có bài ca nào để nhớ thứ tự 64 quẻ không?

Có, cũng của Chu Hy, mở đầu "Càn Khôn Truân Mông Nhu Tụng Sư". Đoạn đầu là 30 quẻ Thượng Kinh, đoạn sau là 34 quẻ Hạ Kinh.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy — Bát quái thủ tượng ca; Thượng hạ kinh quái danh thứ tự ca · Chu Dịch — Hệ Từ truyện hạ — đoạn chế khí thượng tượng (lưới, cày, chợ, thuyền) · Chu Dịch — Thoán truyện quẻ Phệ Hạp — Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp

Hỏi chuyện dẫn dắt, làm trưởng nhóm bằng Kinh Dịch: Sư, Tỷ, Đồng Nhân và KhiêmQuẻ dịch về dẫn dắt: Sư, Tỷ, Khiêm là ba quẻ một hào dương giữa năm hào âm, Đồng Nhân thì ngược lại. Đọc từng vị trí người dẫn dắ…
Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác: năm quẻ "khó" và lời khuyên nằm sẵn trong chính lời quẻQuẻ xấu nhất Kinh Dịch? Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác hay bị gọi vậy, nhưng Đại Tượng từng quẻ đều kèm cách ứng xử và nhiều hào trong…
Tám quẻ thuần (bát thuần quái): khi một quẻ đơn tự nhân đôi thì nghĩa đổi thế nàoBát thuần quái là tám quẻ do một quẻ đơn chồng lên chính nó. Bảng Đại Tượng, chữ lặp đổi nghĩa, vị trí đầu cung và vì sao cả tám …
Hỏi chuyện tranh chấp, kiện tụng bằng Kinh Dịch: Tụng, Phệ Hạp và GiảiQuẻ Thiên Thủy Tụng nói gì về kiện tụng: trung cát chung hung, dừng giữa chừng thì tốt. Đọc thêm Phệ Hạp về xử cho minh bạch, Giả…
Ký Tế và Vị Tế: vì sao Kinh Dịch kết thúc bằng quẻ "chưa xong"Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế khép lại 64 quẻ: đọc đối chiếu từng hào với Ký Tế, con cáo ướt đuôi, trận đánh Quỷ Phương ở hai quẻ và vì sao …
Bốn quẻ Kinh Dịch cho người khởi sự: Truân, Mông, Thăng, TấnQuẻ dịch về khởi nghiệp: Truân là gian nan buổi đầu, lời "lợi kiến hầu" là dựng người cùng gánh việc; Mông, Thăng, Tấn là học, lê…