Tự Quái và Tạp Quái truyện: người xưa giải thích thứ tự 64 quẻ ra sao, và chỗ giải thích gượng
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc
Thứ tự 64 quẻ Văn Vương (Càn, Khôn, Truân, Mông… Ký Tế, Vị Tế) được Tự Quái truyện giải thích bằng một chuỗi lý lẽ: quẻ trước dẫn đến quẻ sau vì "có cái này ắt có cái kia" hoặc "không thể mãi như thế". Chuỗi ấy có 61 mắt xích, nhiều chỗ khéo, nhiều chỗ gượng. Tạp Quái truyện thì bỏ mạch nối tiếp, xếp quẻ thành từng cặp nghĩa đối nhau.
Hai thiên ngắn này là hai cánh cuối của Thập Dực. Chuyện chia Thượng Kinh, Hạ Kinh và câu kết "vật bất khả cùng" đã có ở bài Thượng Kinh, Hạ Kinh. Bài này đọc kỹ cái logic của Tự Quái: nó nối các quẻ bằng những kiểu lý lẽ nào, chỗ nào thuyết phục, chỗ nào phải mượn chữ đồng âm hay ép nghĩa, và Tạp Quái nhìn cùng 64 quẻ ấy bằng con mắt khác ra sao.
Trật tự hình học có trước, lý lẽ có sau
Trước khi đọc Tự Quái, cần biết một điều: thứ tự Văn Vương có một trật tự hình học không cần đến lời giải nào. 64 quẻ đi thành 32 cặp, quẻ lẻ và quẻ chẵn liền sau hoặc là hình lật ngược của nhau, hoặc (với tám quẻ lật vẫn y nguyên) là hình đổi hết hào của nhau. Khổng Dĩnh Đạt đời Đường tóm lại trong tám chữ: "nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến", hai quẻ một đôi, không lật thì đổi. Cách tự kiểm luật này có ở bài bảng 64 quẻ.
Như vậy câu hỏi thật về thứ tự chỉ còn một nửa: vì sao cặp này đứng trước cặp kia. Trong một cặp, quẻ nào đứng sau quẻ nào đã được hình quyết định; Tự Quái chủ yếu phải giải thích bước nhảy giữa các cặp, và nó giải thích cả bước trong cặp bằng lý lẽ, dù bước ấy vốn không cần.
Hai kiểu mắt xích của Tự Quái
Đọc toàn văn Tự Quái, có thể tách các mắt xích thành hai kiểu chính.
Kiểu nhân quả: "X ắt có Y". Có khoảng hai mươi mắt xích dùng chữ "tất" (ắt). Ví dụ:
| Mắt xích | Nguyên văn | Dịch |
|---|---|---|
| Mông → Nhu | Vật trĩ bất khả bất dưỡng dã, cố thụ chi dĩ Nhu; Nhu giả, ẩm thực chi đạo dã | vật còn non không thể không nuôi, nên tiếp bằng Nhu; Nhu là đạo ăn uống |
| Nhu → Tụng | Ẩm thực tất hữu tụng, cố thụ chi dĩ Tụng | ăn uống ắt có tranh chấp, nên tiếp bằng Tụng |
| Tụng → Sư | Tụng tất hữu chúng khởi, cố thụ chi dĩ Sư | tranh chấp ắt có đám đông nổi lên, nên tiếp bằng Sư |
| Tấn → Minh Di | Tiến tất hữu sở thương, cố thụ chi dĩ Minh Di; Di giả, thương dã | tiến ắt có chỗ bị thương, nên tiếp bằng Minh Di |
| Minh Di → Gia Nhân | Thương ư ngoại giả, tất phản kỳ gia, cố thụ chi dĩ Gia Nhân | bị thương ở ngoài ắt quay về nhà, nên tiếp bằng Gia Nhân |
Kiểu đảo chiều: "không thể mãi X". Khoảng mười lăm mắt xích dùng khuôn "vật bất khả dĩ chung…" (vật không thể mãi…) hoặc "… nhi bất dĩ" (… mà không ngừng). Ví dụ: "vật không thể thông mãi, nên tiếp bằng Bĩ"; "vật không thể bế tắc mãi, nên tiếp bằng Đồng Nhân"; "tổn mà không ngừng ắt sẽ ích, nên tiếp bằng Ích"; "vật không thể động mãi, phải dừng, nên tiếp bằng Cấn"; "vật không thể dừng mãi, nên tiếp bằng Tiệm".
Hai kiểu này phản ánh hai trực giác lớn của Dịch: sự việc kéo theo nhau (nhân quả), và sự việc đến cùng thì quay đầu (đảo chiều). Ở những đoạn đẹp nhất, Tự Quái đan xen cả hai thành một câu chuyện liền mạch, như chuỗi Tấn, Minh Di, Gia Nhân, Khuê, Kiển, Giải: tiến lên thì bị thương, bị thương thì về nhà, đạo nhà đến cùng thì trái nhau, trái nhau thì gặp khó, khó không thể mãi nên được cởi. Đọc như một đời người, chuỗi ấy rất thật.
Chỗ khéo
Có mấy mắt xích mà người đọc kỹ phải phục:
- Bác → Phục: "Vật bất khả dĩ chung tận, Bác cùng thượng phản hạ, cố thụ chi dĩ Phục", vật không thể hết hẳn, bào mòn đến tận trên thì quay về dưới, nên tiếp bằng Phục. Câu này khớp đúng với hình quẻ: Bác còn một hào dương trên đỉnh, Phục có một hào dương dưới đáy. Lý lẽ và hình trùng nhau.
- Đại Hữu → Khiêm: "Hữu đại giả bất khả dĩ doanh, cố thụ chi dĩ Khiêm", có lớn thì không thể để đầy, nên tiếp bằng Khiêm. Một mắt xích mang luôn bài học đạo đức của cả hai quẻ, như đã bàn ở bài những quẻ được coi là tốt nhất.
- Đỉnh → Chấn: "Chủ khí giả mạc nhược trưởng tử, cố thụ chi dĩ Chấn", người giữ đồ thờ (cái vạc) không ai bằng con trưởng, nên tiếp bằng Chấn. Mắt xích này dùng kiến thức của Thuyết Quái (Chấn là con trai trưởng) và tục lệ con trưởng giữ việc thờ tự. Từ cái vạc sang tiếng sấm, nghe thì xa, mà nối bằng một người.
- Ký Tế → Vị Tế: câu kết, "vật bất khả cùng dã", đã đủ nổi tiếng; xem bài Ký Tế và Vị Tế.
Chỗ gượng
Nhưng cũng có những mắt xích mà ngay người xưa cũng thấy lỏng:
- Ăn uống ắt có kiện tụng (Nhu → Tụng). Để đi được bước này, Tự Quái phải định nghĩa Nhu là "đạo ăn uống", dựa vào Đại Tượng quẻ Nhu ("quân tử dĩ ẩm thực yến lạc"). Nhưng lời quẻ Nhu nói về sự chờ đợi, không phải ăn uống. Rồi "ăn uống ắt có tranh chấp" là một bước nhảy mà người đọc phải tự lấp.
- Chơi chữ đồng âm ở quẻ Lý. "Vật súc nhiên hậu hữu lễ, cố thụ chi dĩ Lý", vật tích lại rồi mới có lễ, nên tiếp bằng Lý. Quẻ Lý (履) nghĩa là giẫm, đi; Tự Quái nối nó với "lễ" (禮), dựa vào chỗ thời cổ "lý" và "lễ" đọc gần nhau và được dùng giải nghĩa cho nhau.
- Cổ là "việc", Lâm là "lớn". "Dĩ hỷ tùy nhân giả tất hữu sự, cố thụ chi dĩ Cổ; Cổ giả, sự dã", lấy vui theo người ắt có việc, nên tiếp bằng Cổ, Cổ là việc. Rồi "hữu sự nhi hậu khả đại, cố thụ chi dĩ Lâm; Lâm giả, đại dã", có việc rồi mới lớn được, nên tiếp bằng Lâm, Lâm là lớn. Chữ Cổ vốn là sâu trong đồ đựng (xem bài quẻ có tên dễ hiểu lầm); chữ Lâm vốn là đến gần, trông xuống. Để chuỗi đi được, Tự Quái phải cấp cho mỗi tên quẻ một nghĩa vừa khít với mắt xích.
- Không nuôi thì không động (Di → Đại Quá). "Bất dưỡng tắc bất khả động, cố thụ chi dĩ Đại Quá." Người đọc khó thấy vì sao "động" lại dẫn tới Đại Quá, quẻ của đòn nóc cong oằn.
- Có lòng tin ắt làm (Trung Phu → Tiểu Quá). "Hữu kỳ tín giả tất hành chi, cố thụ chi dĩ Tiểu Quá." Lại một bước mà nghĩa "Tiểu Quá" phải được hiểu là "hành động hơi quá" mới khớp.
- Hạ Kinh không nhắc tên Hàm. Đoạn mở Hạ Kinh dài, đi từ trời đất đến vợ chồng, cha con, vua tôi, lễ nghĩa, rồi nhảy thẳng sang "đạo vợ chồng không thể không lâu, nên tiếp bằng Hằng". Quẻ Hàm, quẻ đầu Hạ Kinh, không được gọi tên; nó nằm ngầm trong chữ "vợ chồng".
Hàn Khang Bá, người chú phần Truyện bổ sung cho Vương Bật đời Tấn, đã nói thẳng về điều này. Đại ý lời chú đầu Tự Quái: những gì Tự Quái làm sáng tỏ không phải là chỗ sâu kín của Dịch; nó chỉ nhân thứ tự quẻ có sẵn mà gửi vào đó ý nghĩa. Nói cách khác, thứ tự có trước, lời giải đến sau và chấp nhận co giãn để khớp.
Tạp Quái: một cách xếp khác, theo cặp nghĩa
Tạp Quái truyện là một bài văn vần ngắn, mỗi vế một hai chữ cho một quẻ, xếp quẻ thành cặp đối nghĩa:
Càn cương Khôn nhu, Tỷ lạc Sư ưu. Lâm, Quan chi nghĩa, hoặc dữ hoặc cầu…
Càn cứng Khôn mềm, Tỷ vui Sư lo. Nghĩa của Lâm và Quan, một bên cho, một bên cầu…
Những cặp được nhắc nhiều: "Chấn khởi dã, Cấn chỉ dã" (Chấn là nổi lên, Cấn là dừng); "Tổn, Ích, thịnh suy chi thủy dã" (Tổn và Ích là chỗ bắt đầu của thịnh và suy); "Hàm tốc dã, Hằng cửu dã" (Hàm là nhanh, Hằng là lâu); "Khuê ngoại dã, Gia Nhân nội dã" (Khuê là bên ngoài, Gia Nhân là bên trong); "Cách khứ cố dã, Đỉnh thủ tân dã" (Cách bỏ cũ, Đỉnh lấy mới).
So với Tự Quái, Tạp Quái có ba điểm khác:
| Tự Quái | Tạp Quái | |
|---|---|---|
| Đơn vị | từng quẻ nối tiếp | từng cặp quẻ |
| Lý lẽ | nhân quả, đảo chiều | đối nghĩa trong cặp |
| Thứ tự | theo đúng thứ tự Văn Vương | thứ tự riêng, không theo Văn Vương |
| Chia Thượng, Hạ | có | không |
| Mở, kết | Càn Khôn, kết Vị Tế | Càn Khôn, kết Quải |
Phần lớn cặp trong Tạp Quái là đúng các cặp lật ngược của thứ tự Văn Vương, chỉ là xếp lại theo thứ tự khác. Nhưng từ khoảng chỗ Đại Quá trở xuống, cặp không còn đối nhau: Đại Quá đi với Cấu, Tiệm đi với Di, Ký Tế đi với Quy Muội, Vị Tế đi với Quải. Từ đời Tống đã có người ngờ đoạn cuối Tạp Quái bị xếp lộn thẻ tre khi chép lại; cũng có người cho đó là chủ ý để kết bằng quẻ Quải, câu cuối "quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo ưu", đạo người quân tử lớn lên, đạo kẻ tiểu nhân phải lo.
Tạp Quái hữu ích nhất ở chỗ cho mỗi quẻ một chữ khoá. Muốn nhớ nhanh nghĩa một quẻ, chữ của Tạp Quái thường gọn hơn mọi lời giảng: "Tùy vô cố dã" (Tùy là không có chuyện cũ vướng), "Cổ tắc sức dã" (Cổ là sửa sang), "Phong đa cố dã" (Phong là lắm chuyện), "thân quả, Lữ dã" (ít người thân là Lữ).
Sách cổ nói gì
Hữu thiên địa, nhiên hậu vạn vật sinh yên. Doanh thiên địa chi gian giả, duy vạn vật, cố thụ chi dĩ Truân. Truân giả, doanh dã; Truân giả, vật chi thủy sinh dã.
Có trời đất rồi muôn vật mới sinh. Đầy trong khoảng trời đất chỉ có muôn vật, nên tiếp bằng Truân. Truân là đầy; Truân là lúc vật mới sinh. — Chu Dịch, Tự Quái truyện, câu mở đầu
Bình: Tự Quái không giải Càn, Khôn bằng một mắt xích; hai quẻ được coi là trời đất, điểm xuất phát. Ngay ở mắt xích đầu, ta đã thấy cách làm của Tự Quái: cấp cho Truân hai nghĩa ("đầy" và "mới sinh") để nối được với câu trước. Truân trong lời quẻ là gian nan buổi đầu; Tự Quái chọn nghĩa "mới sinh" vì nó khớp với chuỗi.
Càn cương Khôn nhu, Tỷ lạc Sư ưu.
— Chu Dịch, Tạp Quái truyện, câu mở đầu
Bình: tám chữ, bốn quẻ, hai cặp. Tạp Quái không cần lý lẽ nối, chỉ cần đặt hai quẻ cạnh nhau là nghĩa tự hiện. Đây là cách người học xưa dùng để nhớ cả 64 quẻ trong một bài văn vần.
Đọc cho đúng mức
Tự Quái không phải lý do thật của thứ tự. Thứ tự Văn Vương có trước, Tự Quái đến sau để giải thích; chính Hàn Khang Bá đã nói vậy. Bản lụa Mã Vương Đôi còn xếp 64 quẻ theo thứ tự khác hẳn, cho thấy thứ tự này không phải thứ tự duy nhất từng có; xem bài Chu Dịch Mã Vương Đôi.
Gượng không có nghĩa là vô giá trị. Những mắt xích gượng vẫn cho biết người thời Chiến Quốc, đầu Hán hiểu nghĩa từng quẻ thế nào. "Nhu là đạo ăn uống", "Lâm là lớn" là nghĩa của thời ấy, giúp ta đọc các văn bản cùng thời.
Đừng dùng Tự Quái để đoán quẻ. Có người gieo được một quẻ rồi tra "quẻ sau nó trong Tự Quái" để đoán bước kế tiếp của việc. Không truyền thống chú giải nào làm vậy; muốn biết hướng đi của việc thì xem quẻ biến từ hào động.
Về tác giả. Tự Quái, Tạp Quái theo truyền thống thuộc Thập Dực gán cho Khổng Tử; học giới hiện nay phần nhiều cho là muộn hơn, có thể đến đầu Hán.
Việc nên làm
- Đọc liền mạch Tự Quái từ Truân đến Ly như đọc một câu chuyện, đánh dấu chỗ thấy "nối được" và chỗ thấy "nhảy cóc".
- Với mỗi quẻ đang học, ghi kèm chữ khoá của Tạp Quái; đó là cách nhớ nghĩa nhanh nhất.
- Khi gặp một lời giải "quẻ X đứng sau quẻ Y vì…", nhớ rằng đó là lời của Tự Quái, có thể khéo, có thể gượng.
- Đọc mỗi cặp quẻ cùng nhau, vì cặp là đơn vị mà cả hình học lẫn Tạp Quái đều dùng.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch, Tự Quái truyện, bản thông hành: các mắt xích dẫn trong bài (trích nguyên văn); số mắt xích và phân loại đếm trên toàn văn.
- Chu Dịch, Tạp Quái truyện, bản thông hành (trích nguyên văn các câu dẫn).
- Hàn Khang Bá, lời chú đầu Tự Quái trong Chu Dịch Chú (dẫn đại ý).
- Khổng Dĩnh Đạt, Chu Dịch Chính Nghĩa: "nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến" (trích nguyên văn).
Câu hỏi thường gặp
Thứ tự 64 quẻ được giải thích ở đâu?
Ở Tự Quái truyện, một trong Thập Dực. Tự Quái nối quẻ trước với quẻ sau bằng 61 mắt xích lý lẽ, từ "có trời đất rồi muôn vật sinh" đến "vật không thể cùng tận, nên tiếp bằng Vị Tế".
Tự Quái và Tạp Quái khác nhau thế nào?
Tự Quái giải thích thứ tự Văn Vương bằng chuỗi nhân quả và đảo chiều. Tạp Quái không theo thứ tự ấy mà xếp quẻ thành cặp nghĩa đối nhau, mỗi quẻ một hai chữ, và kết bằng quẻ Quải.
Vì sao nói Tự Quái có chỗ gượng?
Vì để nối được, nó phải cấp cho một số quẻ nghĩa không có trong lời quẻ, như Nhu là ăn uống, Lâm là lớn, hoặc dùng chữ đồng âm như Lý với lễ. Hàn Khang Bá đời Tấn đã nói Tự Quái chỉ mượn thứ tự có sẵn để gửi ý.
Thứ tự 64 quẻ có quy luật hình học không?
Có. 64 quẻ đi thành 32 cặp, mỗi cặp là hai quẻ lật ngược của nhau, hoặc đổi hết hào với tám quẻ lật vẫn y nguyên. Khổng Dĩnh Đạt gọi là "hai quẻ một đôi, không lật thì đổi".
Tạp Quái kết thúc bằng quẻ nào?
Bằng quẻ Quải, với câu "đạo người quân tử lớn lên, đạo kẻ tiểu nhân phải lo". Đoạn cuối Tạp Quái có các cặp không đối nhau, nên từ đời Tống đã có người ngờ bị chép lộn.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Tự Quái truyện — toàn văn hai thiên thượng, hạ · Chu Dịch — Tạp Quái truyện — toàn văn · Chu Dịch Chú — Hàn Khang Bá chú Tự Quái — Tự Quái chi sở minh, phi Dịch chi uẩn dã · Chu Dịch Chính Nghĩa — Khổng Dĩnh Đạt — nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến