Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư: phú thuốc Nôm năm trăm vị và nghệ thuật dạy y bằng thơ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư là bộ sách thuốc hai quyển mang tên Tuệ Tĩnh, nổi tiếng vì phần phú thuốc viết bằng chữ Nôm, tả tính vị khoảng năm trăm vị thuốc nam theo vần điệu để học trò học thuộc. Bản dịch phổ biến (NXB Y học, 1978) ghi nguyên bản do Y viện triều Lê Dụ Tông in năm 1723. Văn bản có nhiều lớp: có phần gắn với Tuệ Tĩnh, có phần do người thời Lê thêm vào.
Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài viết đọc bộ sách như văn bản văn học và lịch sử. Không trích phương, không hướng dẫn dùng vị thuốc nào.
Bộ sách gồm những gì
Theo bản dịch năm 1978 (Lê Đức Toàn sao lục, Phòng Tu thư Huấn luyện Viện Đông y dịch, Nguyễn Sỹ Lâm hiệu đính), quyển thượng gồm:
| Phần | Chữ | Nội dung |
|---|---|---|
| Nam dược quốc âm phú | Nôm | phú tả tính vị các vị thuốc nam |
| Trực giải chỉ nam dược tính phú | Hán | phú giải tính thuốc nam, giọng văn biền ngẫu |
| Y luận | Hán | các bài bàn lý luận |
| Thương hàn cách pháp trị lệ | Hán | phép chữa bệnh ngoại cảm |
Quyển hạ có các phần về phương, trong đó phần thường được nhắc là Thập tam phương gia giảm: mười ba bài thuốc gốc và cách thêm bớt theo chứng.
Hai chữ trong tên sách: "Hồng Nghĩa" được coi là một hiệu khác của Tuệ Tĩnh; "giác tư" là hiểu biết, suy xét. Tên sách vì vậy đại ý là "sách thuốc về sự hiểu biết của Hồng Nghĩa".
Câu mở đầu: một lời tuyên ngôn và một lời chào nghề
Phần phú Hán mở bằng bốn vế (phiên âm theo bản 1978, kèm lời dịch của bản ấy):
Dục huệ sinh dân, Tiên tầm thánh dược. Thiên thư việt định Nam bang, Thổ sản hữu thù Bắc quốc.
Dịch: Muốn giúp sinh dân, trước tìm thánh dược. Thiên thư đã định cõi Nam bang, thổ sản cũng khác miền Bắc quốc. — Trực giải chỉ nam dược tính phú
Vế thứ ba vang thẳng bài Nam quốc sơn hà: "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư", sách trời đã định rõ phận nước Nam. Người soạn phú thuốc mượn đúng chữ "thiên thư" của bài thơ được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, rồi chuyển nó sang chuyện cây cỏ: đất đã khác thì sản vật cũng khác. "Nam dược trị Nam nhân" được nói bằng ngôn ngữ của chủ quyền.
Phần phú Nôm mở bằng một khổ khác hẳn, mềm và dân dã hơn (phiên âm quốc ngữ theo bản 1978):
Chín khéo thiêng, Trời sinh một tính, Vật hoá muôn loài. Đôi khi âm dương chuyển vận, Bốn mùa hàn thử vãng lai. Người chịu khí trung hoà, nhân thuở cảm thương sẩy phải, Thuốc dòi phương gia giảm, dùng thời thực hiện chẳng sai. Nhớ xưa Bàn Cổ hoá nên, Thần Nông nếm biết. Nghĩa đặt có tá, sứ, quân, thần, Tính xét biết ôn, lương, hàn, nhiệt.
Đọc chậm sẽ thấy cả một bài nhập môn y học trong mười hai dòng: trời đất sinh muôn vật; âm dương, bốn mùa nóng lạnh qua lại; người vốn được khí trung hoà, lúc cảm phải thì sinh bệnh; thuốc theo phương mà thêm bớt. Rồi nhắc tổ nghề (Thần Nông nếm thuốc, bài Thần Nông Bản Thảo Kinh), và hai khái niệm nền: phối ngũ quân, thần, tá, sứ, và bốn tính ôn, lương, hàn, nhiệt (bài tứ khí ngũ vị).
Vì sao dạy thuốc bằng phú
Học thuộc. Học trò thuốc thời ấy không có sách in sẵn trong tay; sách quý chép tay, thầy giữ. Vần điệu giúp nhớ hàng trăm tên vị, tính nóng lạnh, vị chua cay. Y thư Trung Hoa cũng có lối này: các bài ca dược tính, bài ca thang đầu. Người Việt làm cùng việc ấy bằng tiếng nói của mình.
Thể phú hợp với liệt kê. Phú cho phép những vế đối nhau, dài ngắn xen kẽ, rất hợp để xếp hai vị thuốc cùng công dụng vào hai vế đối, hay để đặt một vị cạnh tính vị của nó. Người học nhớ cặp đối dễ hơn nhớ danh sách.
Nôm cho người ít chữ Hán. Thầy thuốc làng không phải ai cũng đọc thông chữ Hán. Một bài phú Nôm có thể đọc to, truyền miệng, chép lại bằng chữ ai cũng hiểu.
Đặt cạnh nhau, phú Hán và phú Nôm trong cùng một bộ sách cho thấy hai đối tượng đọc: phú Hán cho người học chữ, phú Nôm cho người học nghề.
Vấn đề văn bản: Nôm đời nào
Đây là chỗ bộ sách quan trọng với giới nghiên cứu chữ Nôm. Nếu phú Nôm đúng là của Tuệ Tĩnh thế kỷ mười bốn, nó là một trong những văn bản Nôm cổ nhất còn lại, xếp cạnh Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi. Nếu không, nó là văn bản Nôm của thời Lê.
Các hội thảo những năm 1984 – 1986 (bài tổng kết của GS Hoàng Bảo Châu) ghi nhận:
- Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư có những phần của Tuệ Tĩnh, có những phần do người đời sau, Thái y viện Hậu Lê, thêm vào.
- Phần gắn với Tuệ Tĩnh, gọi là "Nam dược chính bản", được Lê Đức Toàn, một dật sĩ ở Hoè Nhai, Đông Quan, sao chép và chỉnh lý.
- Các nhà nghiên cứu chưa thống nhất lớp chữ Nôm của phú thuộc thời Trần – Lê sơ hay trải tới thế kỷ mười bảy.
Bản dịch 1978 ghi nguyên bản do Y viện triều Lê Dụ Tông in năm 1723. Tức là bản ta đọc đi qua ít nhất ba lớp: lớp gốc (có thể từ Tuệ Tĩnh), lớp sao lục, chỉnh lý của Lê Đức Toàn, lớp in của Y viện thời Lê. Những từ cổ trong phú, như "dòi", "sẩy phải", là chứng liệu cho các nhà ngôn ngữ học, chưa đủ để định niên đại dứt khoát.
Bài Tuệ Tĩnh và bài Nam Dược Thần Hiệu trình bày tranh luận niên đại rộng hơn.
Sách cổ nói gì
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Dịch: Sách trời đã định rõ phận nước Nam. — Nam quốc sơn hà
Thiên thư việt định Nam bang, thổ sản hữu thù Bắc quốc.
Dịch: Sách trời đã định cõi Nam bang, thổ sản cũng khác miền Bắc quốc. — Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư, Trực giải chỉ nam dược tính phú
Bình: đặt hai câu cạnh nhau là thấy người soạn phú thuốc cố ý mượn ngôn ngữ của bài thơ thần. Lý lẽ "thuốc nam chữa người nam" vốn có gốc trong Nội Kinh (người mỗi phương bệnh khác, phép trị khác); bài phú khoác cho nó áo chủ quyền. Đó là một lựa chọn văn chương có chủ ý, và là lý do bộ sách thuốc này được giới văn học đọc chứ không chỉ giới y.
Đọc cho đúng mức
- Các câu phú trích theo phiên âm và lời dịch của bản NXB Y học 1978; chưa đối chiếu với bản chữ Nôm, chữ Hán gốc.
- Quyền tác giả của Tuệ Tĩnh với toàn bộ sách chưa được xác nhận; văn bản có nhiều lớp.
- Năm in 1723 theo ghi chú của bản dịch 1978; chưa thấy bản khắc.
- Phú thuốc là văn bản dạy học thời cổ; tính vị và công dụng ghi trong đó không thay được nghiên cứu dược lý hiện đại.
Việc nên làm
- Đọc mười hai dòng mở đầu phú Nôm thành tiếng; đó là cách người xưa học, và là cách hiểu vì sao họ chọn thể phú.
- Đọc phú Hán và phú Nôm cạnh nhau để thấy hai lối viết cho hai kiểu người học.
- Quan tâm tới thuốc nam thì học tên cây bằng tên khoa học; tên nôm trong phú không định danh được loài.
Nguồn tham khảo
- Tuệ Tĩnh — Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư; Lê Đức Toàn sao lục; Phòng Tu thư Huấn luyện Viện Đông y dịch, Nguyễn Sỹ Lâm hiệu đính; NXB Y học, Hà Nội, 1978 (phiên âm và lời dịch hai đoạn mở đầu; ghi chú bản in 1723).
- Hoàng Bảo Châu — "Tìm hiểu tư liệu về Tuệ Tĩnh", tổng kết các hội thảo 1984–1986 (dẫn đại ý).
- Nam quốc sơn hà (nguyên văn câu thứ hai).
Câu hỏi thường gặp
Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư là gì?
Là bộ sách thuốc hai quyển mang tên Tuệ Tĩnh, nổi tiếng vì phần phú Nôm tả tính vị thuốc nam, cùng các phần phú Hán, y luận và phương thuốc gia giảm.
Phú Nôm trong sách mở đầu thế nào?
Theo bản dịch 1978, phú Nôm mở bằng "Chín khéo thiêng, Trời sinh một tính, Vật hoá muôn loài…", tóm lý thuyết âm dương, bốn mùa, rồi nhắc Thần Nông và quân thần tá sứ.
Vì sao người xưa dạy thuốc bằng thơ phú?
Để học trò học thuộc hàng trăm vị thuốc với tính vị của chúng; vần điệu và vế đối giúp nhớ, và phú Nôm giúp người ít chữ Hán vẫn học được.
Câu "Thiên thư việt định Nam bang" có liên quan gì tới Nam quốc sơn hà?
Có. Câu phú mượn chữ "thiên thư" của bài Nam quốc sơn hà để nói đất nước khác thì sản vật khác, khoác cho ý "thuốc nam chữa người nam" màu sắc chủ quyền.
Sách có thật của Tuệ Tĩnh không?
Các hội thảo 1984–1986 cho rằng sách có phần của Tuệ Tĩnh và phần do Thái y viện Hậu Lê thêm vào; lớp chữ Nôm của phú còn đang được nghiên cứu.
Nguồn tham khảo: Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư — Tuệ Tĩnh; Lê Đức Toàn sao lục; Phòng Tu thư Huấn luyện Viện Đông y dịch, Nguyễn Sỹ Lâm hiệu đính, NXB Y học, Hà Nội, 1978 — Nam dược quốc âm phú; Trực giải chỉ nam dược tính phú · Hoàng Bảo Châu — Tìm hiểu tư liệu về Tuệ Tĩnh (tổng kết các hội thảo 1984–1986) · Nam quốc sơn hà — bài thơ truyền thống gắn với Lý Thường Kiệt