Thần Nông Bản Thảo Kinh: 365 vị thuốc chia ba phẩm, và vì sao "vô độc" của sách cổ không có nghĩa là an toàn
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Thần Nông Bản Thảo Kinh là sách thuốc cổ nhất của Trung Hoa còn truyền lại nội dung, thành sách khoảng đời Đông Hán, ghi 365 vị chia ba phẩm: thượng phẩm 120 vị để dưỡng mệnh, trung phẩm 120 vị để dưỡng tính, hạ phẩm 125 vị để trị bệnh. Tên Thần Nông là danh nghĩa thần thoại; bản gốc đã mất, bản ta đọc nay là bản dựng lại.
Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Bài viết giới thiệu một văn bản lịch sử. Nhiều vị được sách cổ ghi "không độc, dùng lâu càng tốt" nay đã biết là độc. Không dùng sách cổ để chọn thuốc.
Thần Nông nếm trăm loại cỏ: thần thoại và văn bản
Ai cũng nghe chuyện Thần Nông nếm cỏ để tìm thuốc. Văn bản sớm còn lại kể chuyện này là sách Hoài Nam Tử đời Tây Hán, thiên Tu Vụ Huấn: Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc, nếm vị các loại cỏ, vị ngọt đắng của nguồn nước, để dân biết cái nên tránh cái nên theo; "một ngày gặp bảy mươi thứ độc".
Hai chi tiết hay được kể thêm cần tách ra:
- "Gặp độc thì nhờ lá trà mà giải": câu này được gán cho Thần Nông Bản Thảo, nhưng không thấy trong các bản dựng lại có uy tín. Nhiều khả năng là lời đời sau.
- "Thần Nông qua đời vì nếm cỏ đoạn trường": là truyện dân gian muộn, không có trong sách cổ.
Hán Thư, Nghệ Văn Chí, bản thư mục cuối Tây Hán, không có tên Thần Nông Bản Thảo Kinh, dù có những sách khác gắn tên Thần Nông. Kết hợp với văn phong và địa danh trong sách, giới nghiên cứu thường đặt thời điểm thành sách ở khoảng đời Đông Hán, do nhiều người góp nhặt kinh nghiệm dùng thuốc từ trước đó.
Ba phẩm: xếp thuốc theo mục đích, không theo bệnh
Cách xếp của sách rất lạ với người hiện đại. Thuốc không được chia theo bệnh (thuốc ho, thuốc đau bụng) mà theo mục đích dùng và độ an toàn theo quan niệm thời ấy:
| Phẩm | Số vị | Vai trò trong phương | Sách nói | Ví dụ được xếp ở đây |
|---|---|---|---|---|
| Thượng phẩm | 120 | quân | dưỡng mệnh, ứng với trời; không độc, dùng nhiều dùng lâu không hại; muốn nhẹ mình, thêm khí, sống lâu thì theo đây | nhân sâm, cam thảo, phục linh, câu kỷ, các loại chi, đan sa, vân mẫu |
| Trung phẩm | 120 | thần | dưỡng tính, ứng với người; có vị không độc, có vị độc, phải cân nhắc; muốn ngăn bệnh, bổ chỗ hư yếu thì theo đây | ma hoàng, đương quy, hùng hoàng, thuỷ ngân |
| Hạ phẩm | 125 | tá, sứ | trị bệnh, ứng với đất; nhiều độc, không được dùng lâu; muốn trừ tà khí, phá khối tích thì theo đây | phụ tử, đại hoàng, bán hạ |
Tổng 365 vị, sách nói rõ là để ứng với 365 độ, một độ ứng một ngày, thành một năm. Con số được chọn vì ý nghĩa vũ trụ, không phải vì vừa đúng số thuốc người ta biết.
Đọc kỹ bảng sẽ thấy một tư tưởng: thứ tốt nhất là thứ gần với ăn uống, dùng lâu để giữ sức, không phải thứ chữa bệnh mạnh. Thuốc chữa bệnh bị xếp hạng thấp nhất vì nó mạnh, nó độc. Đây là cùng tinh thần "trị vị bệnh" của Hoàng Đế Nội Kinh.
Cái giá của chữ "vô độc": chuyện đan sa
Bây giờ nhìn lại cột ví dụ. Đan sa (chu sa) đứng trong thượng phẩm, được ghi là dưỡng tinh thần, yên hồn phách, dùng lâu thì sáng suốt, không già. Vân mẫu, một khoáng vật, cũng ở thượng phẩm. Thuỷ ngân và hùng hoàng ở trung phẩm.
Hôm nay ta biết chu sa là thuỷ ngân sunfua, hùng hoàng chứa asen. Dùng lâu là con đường ngắn nhất để ngộ độc kim loại nặng.
Vì sao sách cổ xếp như vậy? Đặt vào bối cảnh, lý do khá rõ:
- Đời Hán là thời thuật thần tiên và luyện đan thịnh. Khoáng vật không mục nát, không đổi màu, được tin là truyền được tính "bền" cho người dùng. Chữ "khinh thân", "bất lão", "thần tiên" lặp đi lặp lại trong các mục thượng phẩm.
- "Độc" của sách cổ chủ yếu là độc cấp tính thấy được ngay: nôn, hôn mê, co giật. Độc tích luỹ qua nhiều tháng nhiều năm thì không ai đủ phương tiện nhận ra mối liên hệ.
Bài học: "vô độc" trong sách cổ là một nhận định của thời ấy, không phải kết quả kiểm nghiệm. Người đời Đường, đời Tống đã ghi lại nhiều trường hợp vua chúa, quan lại ngộ độc vì uống đan dược. Bài về Sơn thuật có nói thêm về truyền thống luyện đan.
Quân, thần, tá, sứ và bảy tình của thuốc
Ngoài danh mục thuốc, phần lời tự của sách đặt nền cho phép phối hợp thuốc mà Đông y dùng đến nay:
Quân thần tá sứ. Một phương có vị chủ (quân), vị giúp (thần), vị phụ (tá, sứ), như một triều đình. Sách gợi ý tỉ lệ một quân, hai thần, ba tá, năm sứ.
Bảy tình (thất tình). Khi hai vị thuốc gặp nhau, sách chia bảy kiểu quan hệ:
| Tên | Nghĩa |
|---|---|
| Đơn hành | dùng một vị riêng |
| Tương tu | hai vị cùng tính, tăng sức cho nhau |
| Tương sử | một vị chính, một vị giúp |
| Tương uý | độc của vị này bị vị kia kìm |
| Tương ố | vị này làm giảm tác dụng của vị kia |
| Tương phản | hai vị gặp nhau sinh độc |
| Tương sát | vị này giải độc của vị kia |
Đây là một cách nghĩ rất sớm về cái mà nay ta gọi là tương tác thuốc. Khác biệt là sách cổ chỉ xét tương tác giữa các vị thuốc với nhau; còn người hôm nay phải xét thêm tương tác với thuốc tây đang dùng.
Lời tự cũng nói thuốc có năm vị (chua, mặn, ngọt, đắng, cay) và bốn khí (hàn, nhiệt, ôn, lương), chữa hàn bằng thuốc nhiệt, chữa nhiệt bằng thuốc hàn. Khung này có bài riêng ở tứ khí ngũ vị.
Sách mất, nội dung còn: chuyện dựng lại văn bản
Bản Thần Nông Bản Thảo Kinh nguyên vẹn không còn. Nội dung của nó sống sót nhờ được chép lồng vào các sách bản thảo đời sau:
| Chặng | Chuyện gì xảy ra |
|---|---|
| Nam Bắc triều | Đào Hoằng Cảnh soạn Bản Thảo Kinh Tập Chú: giữ 365 vị của "Bản Kinh", thêm 365 vị từ một sách khác thành 730 vị; chữ của Bản Kinh viết mực đỏ, phần thêm viết mực đen để phân biệt |
| Đường | Tân Tu Bản Thảo, sách thuốc do triều đình ban hành, kế thừa bản của Đào |
| Tống | Chứng Loại Bản Thảo của Đường Thận Vi giữ lại nhiều lớp văn cổ, dù mực đỏ đen đã được thay bằng ký hiệu chữ trắng chữ đen khi khắc in |
| Minh, Thanh, Nhật | nhiều học giả bóc các lớp ấy ra để dựng lại Bản Kinh: Lư Phục, Tôn Tinh Diễn, Cố Quan Quang, và học giả Nhật Mori Risshi |
Vì vậy các bản Thần Nông Bản Thảo Kinh hiện nay không hoàn toàn giống nhau: thứ tự vị thuốc, vị nào ở phẩm nào có chỗ khác. Con số 120 – 120 – 125 là theo lời tự, còn danh sách cụ thể tuỳ người dựng lại. Gần một nghìn rưỡi năm sau, Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời Trân phá bỏ hẳn lối chia ba phẩm để xếp theo loài.
Sách cổ nói gì
Thượng dược nhất bách nhị thập chủng vi quân, chủ dưỡng mệnh dĩ ứng thiên, vô độc, đa phục cửu phục bất thương nhân.
Dịch: Thuốc bậc trên một trăm hai mươi loại làm quân, chủ việc nuôi mệnh để ứng với trời, không độc, dùng nhiều dùng lâu không hại người. — Thần Nông Bản Thảo Kinh, lời tự
Hạ dược nhất bách nhị thập ngũ chủng vi tá sứ, chủ trị bệnh dĩ ứng địa, đa độc, bất khả cửu phục.
Dịch: Thuốc bậc dưới một trăm hai mươi lăm loại làm tá sứ, chủ việc trị bệnh để ứng với đất, phần nhiều có độc, không được dùng lâu. — Thần Nông Bản Thảo Kinh, lời tự
Bình: hai câu đặt cạnh nhau cho thấy một thang giá trị đẹp, coi trọng giữ sức hơn chữa bệnh, nhưng cũng cho thấy giới hạn của tri thức thời ấy, khi đan sa được đặt chung nhóm "không độc".
Thần Nông... thường bách thảo chi tư vị, thuỷ tuyền chi cam khổ, lệnh dân tri sở tị tựu. Đương thử chi thời, nhất nhật nhi ngộ thất thập độc.
Dịch: Thần Nông nếm vị của trăm loại cỏ, vị ngọt đắng của nước suối, cho dân biết cái nên tránh cái nên theo. Thời ấy, một ngày gặp bảy mươi thứ độc. — Hoài Nam Tử, Tu Vụ Huấn
Đọc cho đúng mức
- Thần Nông là nhân vật thần thoại; sách thành hình khoảng Đông Hán, do nhiều người góp nhặt.
- Bản hiện hành là bản dựng lại, các bản dựng lại khác nhau ở chi tiết.
- Phân loại "độc", "không độc" của sách cổ không còn giá trị hướng dẫn. Nhiều vị thượng phẩm là khoáng vật chứa kim loại nặng; nhiều vị khác có độc tính mà nay mới biết.
- Công dụng sách ghi là công dụng theo kinh nghiệm và quan niệm cổ, phần lớn chưa được kiểm chứng bằng nghiên cứu hiện đại.
Việc nên làm
- Đọc Thần Nông Bản Thảo Kinh như một tư liệu lịch sử về cách người xưa phân loại thuốc và nghĩ về sức khoẻ.
- Không tự dùng sản phẩm có chu sa, hùng hoàng hay khoáng vật không rõ thành phần, kể cả khi được quảng cáo là "thuốc cổ phương".
- Muốn dùng thuốc y học cổ truyền, đến cơ sở có giấy phép, báo cho bác sĩ biết các thuốc đang dùng để tránh tương tác.
Nguồn tham khảo
- Thần Nông Bản Thảo Kinh — lời tự: ba phẩm, quân thần tá sứ, thất tình, tứ khí ngũ vị (trích nguyên văn hai câu về thượng, hạ phẩm; phần còn lại đại ý).
- Hoài Nam Tử — Tu Vụ Huấn (trích nguyên văn đoạn Thần Nông).
- Hán Thư — Nghệ Văn Chí (đại ý).
- Đào Hoằng Cảnh — Bản Thảo Kinh Tập Chú (đại ý về cách chép mực đỏ, mực đen).
- Các bản dựng lại Thần Nông Bản Thảo Kinh của Lư Phục, Tôn Tinh Diễn, Cố Quan Quang, Mori Risshi.
Câu hỏi thường gặp
Thần Nông Bản Thảo Kinh có bao nhiêu vị thuốc?
Sách ghi 365 vị, chia thượng phẩm 120 vị, trung phẩm 120 vị, hạ phẩm 125 vị. Con số 365 được chọn để ứng với số ngày trong năm.
Thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm khác nhau thế nào?
Thượng phẩm để nuôi mệnh, được coi là không độc, dùng lâu được; trung phẩm để nuôi tính, ngăn bệnh, có vị độc có vị không; hạ phẩm để trị bệnh, nhiều độc, không dùng lâu.
Thần Nông có thật viết cuốn sách này không?
Không. Thần Nông là nhân vật thần thoại. Sách được nhiều người góp nhặt, thành hình khoảng đời Đông Hán, rồi gắn tên Thần Nông theo lối xưa.
Vì sao đan sa được xếp vào thượng phẩm?
Vì thời Hán tin khoáng vật bền vững giúp người sống lâu, và người xưa chỉ nhận ra được độc cấp tính. Nay biết đan sa chứa thuỷ ngân, dùng lâu gây ngộ độc.
Bản Thần Nông Bản Thảo Kinh hiện nay có phải bản gốc không?
Không. Bản gốc đã mất. Các bản hiện nay do học giả đời Minh, Thanh và Nhật Bản dựng lại từ những đoạn được chép lồng trong các sách bản thảo đời sau.
Nguồn tham khảo: Thần Nông Bản Thảo Kinh — lời tự (tự lục): ba phẩm, quân thần tá sứ, thất tình · Hoài Nam Tử — Tu Vụ Huấn · Đào Hoằng Cảnh — Bản Thảo Kinh Tập Chú · Hán Thư — Nghệ Văn Chí