Kinh Đại Trường (Thủ Dương Minh): từ ngón trỏ lên cánh mũi, đường kinh bắt chéo ở nhân trung
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Thủ Dương Minh Đại Trường kinh, gọi tắt là kinh Đại Trường, nhận dòng khí từ kinh Phế và đứng thứ hai trong vòng lưu chú. Kinh khởi ở đầu ngón trỏ, chạy mặt ngoài phía trước cánh tay lên vai, lên cổ, vào răng hàm dưới, rồi bắt chéo ở nhân trung để kết thúc cạnh cánh mũi bên đối diện. Kinh có 20 huyệt, thuộc Kim, vượng giờ Mão (5–7 giờ), cặp biểu lý với kinh Phế.
Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Nội dung dưới đây là mô tả của sách cổ về một đường kinh. Không dùng để tự định huyệt, tự châm hay tự bấm huyệt thay cho việc đi khám.
Một kinh ở tay mang tên một phủ ở bụng
Ruột già nằm trong ổ bụng, nhưng đường kinh mang tên nó lại chạy gần trọn trên cánh tay và mặt. Đoạn duy nhất chạm tới ruột là đường trong: từ hố trên đòn (Khuyết Bồn) đi xuống liên lạc Phế, qua cơ hoành, thuộc Đại Trường. Phần có huyệt thì không xuống quá xương đòn.
Linh Khu giải bài toán "phủ ở dưới, kinh ở trên" bằng khái niệm hạ hợp huyệt. Thiên Bản Du nói Đại Trường và Tiểu Trường "đều thuộc về Vị", tức đều có mối nối với Túc Dương Minh ở chân. Vì thế Đại Trường có một huyệt hợp ở dưới, Thượng Cự Hư, nằm trên kinh Vị ở cẳng chân. Cùng mạch ấy, mộ huyệt của Đại Trường là Thiên Xu, nằm hai bên rốn trên kinh Vị chứ không trên chính kinh của nó.
Đường đi: vai là ngã tư, nhân trung là chỗ đổi bên
Từ Thương Dương ở góc móng ngón trỏ, kinh chạy dọc bờ ngón trỏ, qua khe giữa xương bàn ngón cái và ngón trỏ (Hợp Cốc), vào hõm giữa hai gân ở cổ tay phía ngón cái (Dương Khê), dọc bờ ngoài cẳng tay lên đầu ngoài nếp khuỷu (Khúc Trì), lên mặt ngoài cánh tay tới mỏm vai (Kiên Ngung).
Tới vai, kinh vòng ra sau gặp các kinh dương ở Đại Chùy dưới đốt cổ thứ bảy. Từ đó quay ra trước vào Khuyết Bồn rồi tách hai: đường trong xuống bụng như đã nói, đường ngoài lên cổ, qua má, vào lợi răng hàm dưới, vòng ra môi trên.
Chi tiết làm kinh này nổi tiếng là đoạn cuối: hai kinh trái phải giao nhau ở rãnh nhân trung, bên trái sang phải, bên phải sang trái, rồi lên kẹp hai bên lỗ mũi. Kinh bên trái tay kết thúc ở cánh mũi phải. Rất ít đường kinh vượt đường giữa cơ thể như vậy. Ở cánh mũi, Nghênh Hương ("đón mùi thơm") trao dòng khí cho kinh Vị, mở đầu chặng chân của vòng thứ nhất.
Hai mươi huyệt, chia theo vùng
| Vùng | Huyệt | Ghi chú theo lý luận cổ |
|---|---|---|
| Ngón trỏ – bàn tay | Thương Dương, Nhị Gian, Tam Gian, Hợp Cốc | Thương Dương là tỉnh huyệt (Kim); Hợp Cốc là nguyên huyệt |
| Cổ tay – cẳng tay | Dương Khê, Thiên Lịch, Ôn Lưu, Hạ Liêm, Thượng Liêm, Thủ Tam Lý | Thiên Lịch là lạc huyệt; Ôn Lưu là khích huyệt |
| Khuỷu – cánh tay | Khúc Trì, Trửu Liêu, Thủ Ngũ Lý, Tý Nhu | Khúc Trì là hợp huyệt (Thổ) |
| Vai | Kiên Ngung, Cự Cốt | |
| Cổ | Thiên Đỉnh, Phù Đột | |
| Mặt | Hoà Liêu, Nghênh Hương | Nghênh Hương là huyệt cuối, mã LI20 |
Năm du huyệt của kinh dương xếp theo thứ tự Kim – Thủy – Mộc – Hỏa – Thổ: Thương Dương, Nhị Gian, Tam Gian, Dương Khê, Khúc Trì. Thương Dương là huyệt Kim trên kinh Kim, tức bản huyệt của kinh. Thủ Tam Lý ở cẳng tay khác Túc Tam Lý dưới gối; sách ghi tắt "Tam Lý" thì phải nhìn ngữ cảnh.
Hợp Cốc: huyệt quen tên nhất, và chỗ sách cổ dặn tránh
Hợp Cốc nằm ở chỗ hai xương bàn tay khép lại như một thung lũng, nên có tên "hang hợp". Bài ca Tứ tổng huyệt đời Minh gán nó cho vùng mặt và miệng ("diện khẩu Hợp Cốc thu"). Lối nghĩ khớp với đường kinh: Thủ Dương Minh đi lên mặt, vào răng dưới, vòng môi, tới mũi.
Cũng chính Hợp Cốc là một trong những huyệt sách cổ ghi cấm châm cho phụ nữ có thai, thường đi cặp với Tam Âm Giao trên kinh Tỳ. Mẹo bấm huyệt trên mạng thường chỉ kể nửa đầu của chuyện Hợp Cốc.
Dương Minh: kinh "nhiều khí nhiều huyết"
Tố Vấn có một bảng ngắn về lượng khí huyết của sáu kinh, trong đó Dương Minh được tả là thường nhiều khí, nhiều huyết. Đây là kinh duy nhất được nói "nhiều cả hai". Người xưa dùng bảng ấy để bàn châm nông hay sâu.
Còn ở tầng tạng phủ, Đại Trường được Tố Vấn gọi là "quan truyền đạo", ông quan lo việc chuyển đưa: nhận phần cặn từ Tiểu Trường, biến hoá rồi đưa ra ngoài. Cặp Phế – Đại Trường cùng hành Kim, cùng ứng mùa thu; bài sáu cặp kinh biểu lý giải vì sao hai cơ quan cách xa nhau lại được ghép đôi.
Sách cổ nói gì
Đại Trường giả, truyền đạo chi quan, biến hoá xuất yên.
Đại Trường là quan lo chuyển đưa, sự biến hoá từ đó mà ra. — Tố Vấn, Linh Lan Bí Điển Luận
Giao nhân trung, tả chi hữu, hữu chi tả, thượng hiệp tỵ khổng.
Giao nhau ở nhân trung, bên trái sang phải, bên phải sang trái, lên kẹp lỗ mũi. — Linh Khu, thiên Kinh Mạch
Bình: câu thứ hai là bằng chứng người soạn Linh Khu tả đường kinh rất cụ thể, đến mức ghi cả chuyện đổi bên. Đời sau dựa vào chi tiết này để giải thích vì sao có lúc thầy châm chọn huyệt ở bên đối diện với vùng được nói tới.
Đọc cho đúng mức
Hạ hợp huyệt, mộ huyệt, bản huyệt là khung lý luận của châm cứu cổ, giúp hiểu cách người xưa nối các phần cơ thể với nhau; chúng không phải bằng chứng giải phẫu. Bảng khí huyết của sáu kinh cũng chép khác nhau giữa các thiên, nên không nên coi là con số đo được. Mã LI1 đến LI20 theo chuẩn năm 2008; vài sách cũ ghi tên huyệt hơi khác (Hoà Liêu còn gọi là Khẩu Hoà Liêu để phân biệt với Hoà Liêu ở thái dương thuộc kinh Tam Tiêu).
Việc nên làm
- Đọc nối tiếp kinh Phế và kinh Vị: ba kinh liền nhau cho thấy trọn đường đi ngực – tay – mặt – chân.
- Có thai thì báo người châm cứu, xoa bóp trước khi bắt đầu.
- Đi khám ngay khi đi ngoài ra máu, đau bụng dữ dội, thay đổi thói quen đại tiện kéo dài vài tuần, sụt cân không rõ lý do, hoặc liệt mặt đột ngột. Những dấu hiệu ấy cần khám trực tiếp.
Nguồn tham khảo
- Linh Khu: thiên Kinh Mạch (câu trích), thiên Bản Du (đại ý).
- Tố Vấn: Linh Lan Bí Điển Luận (câu trích), Huyết Khí Hình Chí (đại ý).
- Dương Kế Châu, Châm Cứu Đại Thành: bài ca Tứ tổng huyệt.
- Tổ chức Y tế Thế giới, Văn phòng khu vực Tây Thái Bình Dương: Chuẩn vị trí huyệt châm cứu, 2008.
Hỏi bất cứ điều gì về tử vi, Kinh Dịch, phong thuỷ, ngày tốt xấu.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Kinh Đại Trường kết thúc ở đâu?
Ở huyệt Nghênh Hương cạnh cánh mũi. Vì hai kinh bắt chéo ở nhân trung, kinh xuất phát từ tay trái kết thúc ở cánh mũi bên phải và ngược lại.
Kinh Đại Trường có bao nhiêu huyệt?
Hai mươi huyệt mỗi bên, mã quốc tế LI1 (Thương Dương) đến LI20 (Nghênh Hương).
Huyệt Hợp Cốc thuộc kinh nào?
Hợp Cốc thuộc kinh Đại Trường, là nguyên huyệt của kinh. Sách cổ ghi cấm châm huyệt này cho phụ nữ có thai.
Nguồn tham khảo: Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — thiên Kinh Mạch, thiên Bản Du · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — Linh Lan Bí Điển Luận, Huyết Khí Hình Chí · Châm Cứu Đại Thành — Dương Kế Châu — bài ca Tứ tổng huyệt · Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu (2008)
Cả 12 kinh lạc
Kinh PhếKinh Đại TrườngKinh VịKinh TỳKinh TâmKinh Tiểu TrườngKinh Bàng QuangKinh ThậnKinh Tâm BàoKinh Tam TiêuKinh ĐởmKinh Can