Kinh Vị (Túc Dương Minh Vị kinh): 45 huyệt từ dưới mắt xuống ngón chân thứ hai và huyệt Túc Tam Lý

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Túc Dương Minh Vị kinh (kinh Vị) đứng thứ ba trong vòng lưu chú và là kinh duy nhất trong các kinh dương chạy ở mặt trước thân người. Kinh bắt đầu dưới mắt, xuống mặt, cổ, qua núm vú, xuống bụng, theo mặt trước đùi và cẳng chân tới ngón chân thứ hai. Kinh có 45 huyệt, thuộc Thổ, vượng giờ Thìn (7–9 giờ), cặp biểu lý với kinh Tỳ.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Trang này kể lại đường kinh Vị theo sách cổ. Không dùng để tự định huyệt, tự châm, tự cứu ngải hay bỏ việc đi khám.

Kinh dương duy nhất đi ở mặt trước

Kinh dương ở chân thường chạy mặt sau (Bàng Quang) hoặc mặt bên (Đởm); riêng kinh Vị đi thẳng xuống mặt trước: ngực, bụng, đùi, ống chân. Sách cổ coi mặt trước bụng là vùng âm, nên một kinh dương nằm ở đây là trường hợp đặc biệt, thường được giải bằng tính "nhiều khí nhiều huyết" của Dương Minh.

Kinh dài, nên tả đường đi thường chia sáu chặng:

  1. Mặt: khởi ở cạnh mũi, lên gốc mũi gặp kinh Bàng Quang ở khoé mắt trong, xuống dưới mắt (Thừa Khấp, "đón nước mắt"), vào lợi răng hàm trên, vòng môi, gặp mạch Nhâm ở rãnh dưới môi.
  2. Hàm – thái dương: theo bờ hàm dưới qua Đại Nghênh, Giáp Xa, lên trước tai, theo chân tóc lên góc trán (Đầu Duy).
  3. Cổ – ngực: từ Đại Nghênh xuống Nhân Nghênh cạnh yết hầu, vào hố trên đòn (Khuyết Bồn), xuống ngực theo đường thẳng qua núm vú.
  4. Bụng: xuống kẹp hai bên rốn, cách đường giữa hai thốn, tới bẹn (Khí Xung). Đường trong từ Khuyết Bồn xuống qua cơ hoành, thuộc Vị, liên lạc Tỳ, rồi gặp lại đường ngoài ở bẹn.
  5. Đùi – gối: mặt trước ngoài đùi, qua Phục Thỏ ("con thỏ nằm", tên tả khối cơ đùi), xuống xương bánh chè.
  6. Cẳng chân – bàn chân: dọc bờ ngoài xương chày, qua mu chân, ra đầu ngón thứ hai (Lệ Đoài). Hai nhánh phụ: một nhánh từ dưới gối ba thốn rẽ ra ngón giữa, một nhánh từ mu chân sang ngón cái để nối kinh Tỳ.

Bốn mươi lăm huyệt: những tên đáng nhớ

HuyệtVùngVai trò theo lý luận cổ
Thừa Khấpdưới mắthuyệt đầu, mã ST1
Địa Thương, Giáp Xa, Hạ Quanmép miệng, góc hàm, trước tai
Nhân Nghênhcạnh yết hầu, chỗ mạch đậpmột trong hai chỗ bắt mạch lớn thời Linh Khu
Nhũ Trungnúm vúchỉ dùng làm mốc; sách cổ cấm châm và cứu
Thiên Xuhai bên rốnmộ huyệt của Đại Trường
Khí XungbẹnLinh Khu gọi vùng này là Khí Nhai
Lương Khâutrên gốikhích huyệt
Túc Tam Lýdưới gối ba thốnhợp huyệt (Thổ)
Thượng Cự Hư, Hạ Cự Hưcẳng chânhạ hợp huyệt của Đại Trường, Tiểu Trường
Phong Longcẳng chânlạc huyệt
Giải Khê, Xung Dương, Hãm Cốc, Nội Đìnhcổ chân, mu chânkinh, nguyên, du, huỳnh huyệt
Lệ Đoàingón chân thứ haitỉnh huyệt, mã ST45

Nhìn bảng sẽ thấy kinh Vị "chứa" hạ hợp huyệt của hai phủ khác và mộ huyệt của Đại Trường; câu Linh Khu "Đại Trường, Tiểu Trường đều thuộc về Vị" hiện ra ngay trên đường kinh.

Nhân Nghênh: chỗ bắt mạch ở cổ đã bị lãng quên

Ngày nay ai cũng biết thầy thuốc Đông y bắt mạch ở cổ tay. Nhưng trong Linh Khu, nhiều thiên so mạch ở cổ tay (thốn khẩu) với mạch ở cổ (Nhân Nghênh): thiên Chung Thủy dùng tỉ lệ giữa hai chỗ để đọc kinh âm hay kinh dương đang mạnh hơn (đại ý). Thốn khẩu đại diện cho âm, Nhân Nghênh, nằm trên kinh Vị, đại diện cho dương. Sau Nạn Kinh, phép bắt mạch dồn hết về cổ tay, và Nhân Nghênh lùi thành một cái tên trong sách.

"Biển thủy cốc" và Túc Tam Lý

Tố Vấn gọi Tỳ Vị là "quan kho lẫm", nơi năm vị từ đó mà ra. Linh Khu thiên Hải Luận đi xa hơn: con người có bốn biển, và Vị là biển của nước và đồ ăn, có du huyệt trên ở Khí Nhai, dưới ở Tam Lý.

Túc Tam Lý vì thế thành huyệt được nhắc nhiều nhất trong sách dưỡng sinh Đông Á. Ở Nhật, nhà thơ Bashō mở đầu tập du ký "Lối lên miền Oku" (1689) bằng việc khâu lại quần, thay quai nón và cứu ngải ở Tam Lý trước khi lên đường. Người Hoa có câu tục ngữ đại ý "muốn yên thì đừng để Tam Lý khô", nhắc tục cứu ngải thường xuyên ở huyệt này. Đó là lớp văn hoá dưỡng sinh, không phải lời khuyên y khoa cho từng người; cứu ngải gây bỏng là chuyện thật, nhất là với người tiểu đường, tê bì chân.

Vị, Thổ và giờ Thìn

Vị thuộc Thổ, cùng Tỳ ứng trưởng hạ, mùa ẩm cuối hè. Giờ Thìn (7–9 giờ) của Vị hay được lấy làm lý do "phải ăn sáng trước 9 giờ"; bài ăn theo canh giờ tách chỗ trùng hợp với khoa học dinh dưỡng và chỗ chỉ là suy diễn.

Sách cổ nói gì

Vị giả, thủy cốc chi hải, kỳ du thượng tại Khí Nhai, hạ chí Tam Lý.

Vị là biển của nước và đồ ăn; du huyệt của nó trên ở Khí Nhai, dưới tới Tam Lý. — Linh Khu, thiên Hải Luận

Tỳ Vị giả, thương lẫm chi quan, ngũ vị xuất yên.

Tỳ Vị là quan coi kho lẫm, năm vị từ đó mà ra. — Tố Vấn, Linh Lan Bí Điển Luận

Bình: hai câu cho thấy người xưa nhìn Vị như kho và biển, tức nơi chứa và nơi phát. Từ đó mới có tư tưởng "có vị khí thì sống, không vị khí thì nguy" mà các thầy thuốc đời sau, nhất là Lý Đông Viên, đẩy lên thành cả một trường phái (xem bài Tỳ Vị là gốc hậu thiên).

Đọc cho đúng mức

"Vị" Đông y bao gồm cả chức năng tiếp nhận, nghiền nát đồ ăn, rộng hơn dạ dày giải phẫu. Đường kinh đi qua núm vú, bụng, bẹn là mô tả cổ, không có nghĩa mọi khó chịu ở các vùng đó đều "do kinh Vị". Các nghiên cứu về Túc Tam Lý cho kết quả không đồng nhất, phụ thuộc thiết kế nghiên cứu; bài kinh lạc và khoa học tóm những gì đã biết và chưa biết.

Việc nên làm

  1. Đọc kinh Vị cùng kinh Tỳ: hai kinh cặp biểu lý, nối nhau ở ngón chân cái.
  2. Muốn cứu ngải hay châm Túc Tam Lý để dưỡng sinh thì hỏi thầy thuốc y học cổ truyền có chứng chỉ, nhất là khi có bệnh nền, tê bì chân hay đang dùng thuốc chống đông.
  3. Đi khám ngay khi đau bụng trên dữ dội, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, nuốt nghẹn tăng dần, sụt cân không rõ lý do.

Nguồn tham khảo

  • Linh Khu: thiên Kinh Mạch, Hải Luận (câu trích), Chung Thủy (đại ý).
  • Tố Vấn: Linh Lan Bí Điển Luận (câu trích).
  • Matsuo Bashō, Oku no Hosomichi (1689): đoạn mở đầu nhắc cứu ngải ở Tam Lý (đại ý).
  • Tổ chức Y tế Thế giới, Văn phòng khu vực Tây Thái Bình Dương: Chuẩn vị trí huyệt châm cứu, 2008.
✨Hỏi AI Huyền Học
Hỏi bất cứ điều gì về tử vi, Kinh Dịch, phong thuỷ, ngày tốt xấu.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Kinh Vị có bao nhiêu huyệt?

Bốn mươi lăm huyệt mỗi bên theo chuẩn năm 2008, mã ST1 (Thừa Khấp) đến ST45 (Lệ Đoài). Đây là kinh nhiều huyệt thứ hai sau kinh Bàng Quang.

Túc Tam Lý nằm trên kinh nào?

Túc Tam Lý thuộc kinh Vị, ở mặt trước ngoài cẳng chân, dưới gối khoảng ba thốn. Đây là hợp huyệt của kinh, khác với Thủ Tam Lý ở cẳng tay thuộc kinh Đại Trường.

Giờ vượng của kinh Vị là giờ nào?

Giờ Thìn, khoảng 7 đến 9 giờ sáng, theo phép nạp chi của Tý Ngọ Lưu Chú.

Nguồn tham khảo: Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — thiên Kinh Mạch, thiên Hải Luận, thiên Chung Thủy · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — Linh Lan Bí Điển Luận · Matsuo Bashō — Oku no Hosomichi (Lối lên miền Oku) — đoạn mở đầu · Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu (2008)

Cả 12 kinh lạc

Kinh PhếKinh Đại TrườngKinh VịKinh TỳKinh TâmKinh Tiểu TrườngKinh Bàng QuangKinh ThậnKinh Tâm BàoKinh Tam TiêuKinh ĐởmKinh Can