Kinh Bàng Quang (Túc Thái Dương): đường kinh dài nhất, 67 huyệt và hai hàng du huyệt dọc lưng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Kinh Bàng Quang, tên đủ là Túc Thái Dương Bàng Quang kinh, là đường kinh dài nhất và nhiều huyệt nhất trong mười hai chính kinh: 67 huyệt, khởi ở khoé mắt trong (Tình Minh), vượt đỉnh đầu, chạy hai hàng song song dọc lưng rồi xuống tận ngón chân út (Chí Âm). Kinh thuộc hành Thuỷ, vượng giờ Thân (15–17 giờ), đi cặp biểu lý với kinh Thận.

Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. Trang này kể đường kinh theo sách cổ để hiểu, không dùng để tự tìm huyệt, tự châm hay tự bấm chữa bệnh.

Một đường kinh phủ gần trọn mặt sau cơ thể

Nếu đặt mười hai đường kinh lên một hình người đứng, kinh Bàng Quang gần như một mình giữ cả mặt sau: trán, đỉnh đầu, gáy, toàn bộ lưng, mông, mặt sau đùi, bắp chân, gót. Linh Khu tả nó đi theo bốn chặng:

ChặngĐi quaHuyệt mốc
Đầukhoé mắt trong, lên trán, giao nhau ở đỉnh đầu; một nhánh từ đỉnh vào não rồi trở ra xuống gáyTình Minh, Toản Trúc, Thiên Trụ
Lưng, đường thứ nhấtkẹp hai bên cột sống, cách đường giữa một thốn rưỡi, xuống thắt lưng, đi vào trong liên lạc Thận, thuộc Bàng QuangĐại Trữ, Phế du … Bàng Quang du
Lưng, đường thứ haitừ bả vai tách ra, cách đường giữa ba thốn, xuống mông, theo mặt sau đùiCao Hoang, Chí Thất
Chânhai đường gặp nhau ở khoeo, xuống bắp chân, vòng sau mắt cá ngoài, tới mép ngoài ngón útUỷ Trung, Thừa Sơn, Côn Lôn, Chí Âm

Chính vì đi suốt mặt sau mà kinh này mang tên Thái Dương: phía lưng là phía dương của thân người, và Thái Dương là tầng dương lớn nhất. Thiên Căn Kết của Linh Khu xếp ba kinh dương như ba phần của cánh cửa, trong đó "Thái Dương vi khai", Thái Dương là cánh mở ra ngoài (xem khai, hợp, xu).

Hàng du huyệt: tấm bản đồ tạng phủ đặt trên lưng

Chỗ làm kinh Bàng Quang khác hẳn mười một kinh còn lại là đường thứ nhất ở lưng. Trên đó, cứ xuống một đốt sống lại gặp một huyệt mang tên một tạng hay một phủ, gọi là bối du huyệt (du huyệt ở lưng). Thứ tự từ trên xuống, theo chuẩn hiện hành:

Ngang đốtHuyệtNgang đốtHuyệt
ngực 3Phế duthắt lưng 1Tam Tiêu du
ngực 4Quyết Âm du (ứng Tâm Bào)thắt lưng 2Thận du
ngực 5Tâm duthắt lưng 4Đại Trường du
ngực 9Can ducùng 1Tiểu Trường du
ngực 10Đởm ducùng 2Bàng Quang du
ngực 11Tỳ du
ngực 12Vị du

Thứ tự này không tuỳ tiện: tạng ở cao (Phế, Tâm) có du huyệt ở cao, phủ ở bụng dưới (Đại Trường, Bàng Quang) có du huyệt ở thấp. Người xưa đặt bản đồ bên trong lên mặt lưng theo đúng tầng cao thấp. Linh Khu có hẳn một thiên tên Bối Du chỉ bàn năm du huyệt của ngũ tạng, đại ý dạy cách tìm bằng tay: ấn vào chỗ ấy mà thấy ứng vào bên trong, hoặc cơn đau dịu xuống, thì đó là du huyệt.

Trên cùng hàng ấy còn hai huyệt thuộc nhóm "tám hội huyệt" của Nạn Kinh: Đại Trữ là chỗ hội của xương, Cách du là chỗ hội của huyết. Một đường kinh giữ hai trong tám hội huyệt: trong mười hai chính kinh, chỉ kinh Đởm sánh được.

Đường thứ hai: năm huyệt mang tên năm "thần"

Đường thứ hai, xa cột sống hơn, ít người để ý nhưng có một chi tiết đẹp. Đặt ngang hàng với du huyệt của năm tạng là năm huyệt mang tên năm thứ tinh thần mà Tố Vấn gán cho năm tạng:

Ngang vớiHuyệt đường thứ haiNghĩa tên
Phế duPhách Hộcửa của phách
Tâm duThần Đườngnhà của thần
Can duHồn Môncổng của hồn
Tỳ duÝ Xánhà trọ của ý
Thận duChí Thấtphòng của chí

Người đặt tên huyệt đã đọc rất kỹ học thuyết tạng tượng: Phế tàng phách, Tâm tàng thần, Can tàng hồn, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí. Đường trong là tên tạng, đường ngoài là cái tạng ấy cất giữ. Đọc hai hàng song song thì thấy một ý của y học cổ: tạng không chỉ là cơ quan, mà còn là nơi trú của một phần tâm trí (xem "Thận" Đông y không phải quả thận và ngũ chí gắn với năm tạng).

Cũng trên đường thứ hai có Cao Hoang, huyệt mang tên một điển cố trong Tả Truyện: vua Tấn Cảnh Công lâm bệnh, thầy thuốc nước Tần sang xem, nói bệnh đã nằm ở chỗ "trên hoang, dưới cao", châm không tới, thuốc không đến (đại ý). Thành ngữ "bệnh nhập cao hoang" ra từ đó, và tên huyệt giữ lại vùng cơ thể người xưa coi là sâu kín nhất.

Tên huyệt ở chân: núi và sông

Xuống tới chân, tên huyệt đổi sang địa hình. Thừa Sơn là "đỡ núi", nằm dưới bắp chân như chân núi đỡ khối cơ phía trên. Côn Lôn sau mắt cá ngoài lấy tên dãy núi thiêng ở phía tây, vì mắt cá nhô lên như đỉnh núi. Thông Cốc, Kinh Cốt, Thúc Cốt là những tên chỉ khe và xương dọc mép bàn chân. Huyệt cuối cùng, Chí Âm, nghĩa là "tới âm": ở đầu ngón út, kinh Thái Dương hết đường và trao khí sang kinh Thận, kinh Thiếu Âm. Cái tên báo trước chỗ đổi từ dương sang âm (xem cách đọc tên huyệt).

Ở khoeo có Uỷ Trung, nơi hai đường lưng gặp lại nhau. Bài Tứ tổng huyệt ca chép trong các sách châm cứu đời Minh có câu "yêu bối Uỷ Trung cầu", chuyện lưng thì tìm Uỷ Trung, cho thấy thầy thuốc xưa dùng đường kinh để giải thích vì sao một huyệt sau gối lại liên quan tới lưng: cùng một dòng chảy.

Thái Dương của kinh lạc và Thái Dương của Thương Hàn

Người mới đọc sách Đông y hay lẫn hai thứ cùng tên. Trương Trọng Cảnh mở Thương Hàn Luận bằng "bệnh Thái Dương", tầng đầu tiên khi tà khí từ ngoài vào. Đó là một khuôn chia bệnh theo sáu tầng (lục kinh), có dựa trên đường kinh Thái Dương ở gáy lưng nhưng không đồng nhất với đường kinh. Câu mở đầu nhắc đúng vùng kinh Bàng Quang đi qua: đầu và gáy cứng đau (xem Thương Hàn Tạp Bệnh Luận).

Sách cổ nói gì

Thái Dương chi vi bệnh, mạch phù, đầu hạng cường thống nhi ố hàn.

Dịch: Bệnh Thái Dương thì mạch phù, đầu gáy cứng đau và sợ lạnh. — Thương Hàn Luận, thiên Biện Thái Dương Bệnh

Tâm tàng thần, Phế tàng phách, Can tàng hồn, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí.

Dịch: Tâm giữ thần, Phế giữ phách, Can giữ hồn, Tỳ giữ ý, Thận giữ chí. — Tố Vấn, thiên Tuyên Minh Ngũ Khí

Bình: câu thứ nhất cho thấy vì sao sách cổ coi kinh Bàng Quang là hàng rào ngoài cùng; câu thứ hai là chìa khoá đọc năm huyệt ở đường lưng thứ hai. Đường đi của kinh ở các mục trên tóm theo đại ý thiên Kinh Mạch, Linh Khu.

Đọc cho đúng mức

Hàng du huyệt là một hệ quy ước của y học cổ, không phải bằng chứng rằng mỗi đốt sống nối thẳng với một cơ quan. Y học hiện đại giải thích một phần hiện tượng "đau ở lưng mà gốc ở trong" bằng đau quy chiếu qua thần kinh, nhưng đó là hai cách nói khác nhau, chưa nên ghép làm một (xem kinh lạc dưới góc nhìn nghiên cứu hiện đại).

Việc nên làm

  1. Muốn học hàng du huyệt, đọc nó như một tấm bản đồ quy ước: nhớ thứ tự cao thấp của tạng phủ trước, rồi mới nhìn tranh kinh lạc.
  2. Đau lưng kéo dài, đau lan xuống chân kèm tê yếu, tiểu buốt, tiểu ra máu, hay sốt kèm đau hông lưng là những dấu hiệu cần đi khám bác sĩ, không tự xoa bóp theo đường kinh rồi chờ.
  3. Nếu đi châm cứu hay giác hơi ở lưng, chọn cơ sở có người hành nghề được cấp phép và báo trước bệnh nền, thuốc đang dùng.

Nguồn tham khảo

  • Hoàng Đế Nội Kinh – Linh Khu — thiên Kinh Mạch (đường đi), thiên Bối Du, thiên Căn Kết (đại ý)
  • Hoàng Đế Nội Kinh – Tố Vấn — thiên Tuyên Minh Ngũ Khí (nguyên văn câu về năm thứ tạng giữ)
  • Thương Hàn Luận — Trương Trọng Cảnh, câu mở đầu bệnh Thái Dương
  • Nạn Kinh — nạn 45, tám hội huyệt (đại ý)
  • Tả Truyện — chuyện Tấn Cảnh Công và chữ "cao hoang" (đại ý)
  • Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu, 2008 (số huyệt, vị trí du huyệt)
  • Bài mười hai chính kinh, sáu cặp kinh biểu lý trên aihuyenhoc.com
✨Hỏi AI Huyền Học
Hỏi bất cứ điều gì về tử vi, Kinh Dịch, phong thuỷ, ngày tốt xấu.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Kinh Bàng Quang có bao nhiêu huyệt?

Theo chuẩn vị trí huyệt năm 2008, kinh Bàng Quang có 67 huyệt mỗi bên, nhiều nhất trong mười hai chính kinh, từ Tình Minh ở khoé mắt trong đến Chí Âm ở ngón chân út.

Giờ vượng của kinh Bàng Quang là giờ nào?

Theo vòng lưu chú, kinh Bàng Quang vượng giờ Thân, từ 15 đến 17 giờ, nằm sau kinh Tiểu Trường (giờ Mùi) và trước kinh Thận (giờ Dậu).

Bối du huyệt là gì?

Là các huyệt trên đường thứ nhất của kinh Bàng Quang ở lưng, mỗi huyệt mang tên một tạng hay phủ như Phế du, Tâm du, Can du, Thận du, xếp từ cao xuống thấp theo vị trí tạng phủ.

Kinh Bàng Quang có phải đường đi của bàng quang không?

Không theo nghĩa giải phẫu. Đường trong của kinh có liên lạc Thận và thuộc Bàng Quang, nhưng phần lớn đường kinh chạy ở đầu, lưng và chân; "Bàng Quang" là một phủ theo học thuyết tạng tượng.

Nguồn tham khảo: Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — thiên Kinh Mạch; thiên Bối Du; thiên Căn Kết · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — thiên Tuyên Minh Ngũ Khí · Thương Hàn Luận — Trương Trọng Cảnh — thiên Biện Thái Dương Bệnh · Tả Truyện — năm thứ mười đời Lỗ Thành Công · Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu (2008)

Cả 12 kinh lạc

Kinh PhếKinh Đại TrườngKinh VịKinh TỳKinh TâmKinh Tiểu TrườngKinh Bàng QuangKinh ThậnKinh Tâm BàoKinh Tam TiêuKinh ĐởmKinh Can