Kinh Đởm (Túc Thiếu Dương): ba lượt uốn quanh đầu, 44 huyệt dọc sườn thân và giờ Tý
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Đường kinh có nhiều huyệt nhất trên đầu là kinh Đởm, tên đủ Túc Thiếu Dương Đởm kinh. Kinh khởi ở đuôi mắt (Đồng Tử Liêu), uốn ba lượt qua lại hai bên đầu, xuống gáy, qua vai, chạy dọc sườn và hông, theo mặt ngoài đùi và cẳng chân tới đầu ngón chân thứ tư (Túc Khiếu Âm). Kinh có 44 huyệt, thuộc hành Mộc, vượng giờ Tý (23–1 giờ), đi cặp biểu lý với kinh Can.
Kiến thức văn hoá, không thay cho khám chữa bệnh. "Đởm" là một phủ theo học thuyết Đông y, không đồng nhất với túi mật. Trang này kể đường kinh theo sách cổ, không dùng để tự chẩn đoán hay tự bấm huyệt.
Hai mươi huyệt trên đầu: một đường kinh đi ba lượt
Trong 44 huyệt của kinh Đởm, 20 huyệt đầu tiên nằm trên đầu. Không đường kinh nào dành cho vùng đầu nhiều huyệt như vậy. Lý do là kinh không đi thẳng mà uốn qua uốn lại, giống một người đi tuần quanh một ngọn đồi:
| Lượt | Đi từ đâu tới đâu | Huyệt |
|---|---|---|
| Thứ nhất | từ đuôi mắt ra trước tai, lên vùng thái dương, rồi lùi xuống | Đồng Tử Liêu, Thính Hội, Thượng Quan, Hàm Yếm, Huyền Lư, Huyền Ly, Khúc Tân |
| Thứ hai | từ trên đỉnh tai vòng ra sau tai, xuống tới sau xương chũm | Suất Cốc, Thiên Xung, Phù Bạch, Đầu Khiếu Âm, Hoàn Cốt |
| Thứ ba | vọt lên trán, đi dọc phía trên trán ra sau đầu, xuống gáy | Bản Thần, Dương Bạch, Đầu Lâm Khấp, Mục Song, Chính Doanh, Thừa Linh, Não Không, Phong Trì |
Học trò châm cứu nhớ đoạn này rất vất vả, vì hướng đi đổi liên tục. Nhưng nhìn tổng thể, kinh Đởm phủ trọn hai bên đầu, đúng vùng mà kinh Bàng Quang (đi sát hai bên đường giữa đỉnh đầu) và kinh Vị (đi phía trước mặt) để trống. Ba kinh dương ở chân chia nhau cái đầu thành ba dải: trước, giữa, bên.
Phong Trì, "ao gió", ở chỗ lõm dưới chẩm, là huyệt cuối của đoạn đầu, nơi theo quan niệm xưa gió lạnh hay lọt vào gáy.
Nửa dưới: dải bên của thân và chân
Từ gáy, kinh xuống vai (Kiên Tỉnh, "giếng trên vai"), vào hố trên xương đòn, rồi đường ngoài đi dọc nách, qua sườn, qua đầu sườn cụt, xuống hông. Đây là dải bên của thân người, nằm giữa mặt trước của kinh Vị và mặt sau của kinh Bàng Quang. Xuống chân, kinh giữ đúng vị trí ấy: mặt ngoài đùi (Phong Thị), mặt ngoài gối, dọc xương mác, trước mắt cá ngoài (Khâu Khư), qua mu chân, tới ngón thứ tư. Một nhánh từ mu chân đi sang ngón cái để trao khí cho kinh Can.
Đường trong theo Linh Khu đi từ hố trên đòn vào ngực, qua cơ hoành, liên lạc Can, thuộc Đởm, rồi đi dọc trong sườn, ra vùng bẹn, vòng qua khớp háng (đại ý). Sườn là vùng gặp nhau của cả đường trong và đường ngoài, nên sách cổ hay đọc chứng đầy tức hai bên sườn qua cặp Can – Đởm.
Hai hội huyệt và một mạch nằm ngang
Nạn Kinh nạn 45 nêu tám "hội huyệt", tám chỗ hội của tám thứ trong thân. Kinh Đởm giữ hai:
- Dương Lăng Tuyền (suối ở gò dương), dưới đầu xương mác ngoài gối, là chỗ hội của cân, tức gân cơ.
- Tuyệt Cốt, nay quen gọi Huyền Chung, trên mắt cá ngoài, là chỗ hội của tuỷ.
Gân và tuỷ được gán cho hai huyệt ở chân của một kinh Mộc: theo ngũ hành, Can chủ cân, và cặp Can – Đởm vì thế được giao giữ chỗ hội của gân.
Ở hông, kinh Đởm có một huyệt mang luôn tên một kỳ kinh: Đới Mạch. Mạch Đới là mạch duy nhất chạy vòng ngang quanh eo như cái thắt lưng, và các huyệt giao hội của nó (Đới Mạch, Ngũ Khu, Duy Đạo) đều nằm trên kinh Đởm (xem kỳ kinh bát mạch). Thêm vào đó, Túc Lâm Khấp ở mu chân là huyệt giao hội thông với chính mạch Đới. Một đường kinh đi dọc lại giữ luôn cái vòng ngang của thân.
Thiếu Dương là bản lề
Thiên Căn Kết của Linh Khu xếp ba kinh dương như ba bộ phận cánh cửa; trong đó Thiếu Dương là "xu", cái bản lề (xem khai, hợp, xu). Các nhà chú giải Thương Hàn Luận đọc bệnh Thiếu Dương theo đúng ý bản lề: tầng "nửa ngoài nửa trong", không còn hẳn ở biểu mà chưa vào hẳn trong lý. Câu Trương Trọng Cảnh tả bệnh Thiếu Dương chỉ có ba dấu hiệu, đều ở vùng đầu mặt mà kinh Đởm đi qua: miệng đắng, họng khô, mắt hoa.
Đởm cũng là phủ đặc biệt nhất trong sáu phủ. Tố Vấn xếp nó vào cả lục phủ lẫn nhóm "phủ kỳ hằng" (cùng não, tuỷ, xương, mạch, tử cung), vì nó chứa một thứ dịch trong sạch chứ không chuyển chất cặn như các phủ khác (xem lục phủ và phủ kỳ hằng).
Giờ Tý và chữ "quyết đoán"
Kinh Đởm vượng giờ Tý, mở đầu một ngày theo lịch can chi, cũng là lúc "một dương bắt đầu sinh" trong lý luận âm dương. Tố Vấn gọi Đởm là quan "trung chính", nơi quyết đoán phát ra, và còn nói mười một tạng phủ đều lấy quyết ở Đởm. Tiếng Việt giữ ý này trong chữ "can đảm", "to gan lớn mật", "nhát gan". Lời khuyên ngủ trước giờ Tý của sách dưỡng sinh và các nghiên cứu về giấc ngủ được bàn ở bài ngủ trước giờ Tý.
Sách cổ nói gì
Đởm giả, trung chính chi quan, quyết đoán xuất yên.
Dịch: Đởm là quan trung chính, sự quyết đoán từ đó mà ra. — Tố Vấn, thiên Linh Lan Bí Điển Luận
Phàm thập nhất tạng thủ quyết ư Đởm dã.
Dịch: Mười một tạng phủ đều lấy quyết định ở Đởm. — Tố Vấn, thiên Lục Tiết Tạng Tượng Luận
Thiếu Dương chi vi bệnh, khẩu khổ, yết can, mục huyễn dã.
Dịch: Bệnh Thiếu Dương thì miệng đắng, họng khô, mắt hoa. — Thương Hàn Luận
Bình: câu thứ hai được các nhà chú giải đời sau bàn rất nhiều, vì đặt một phủ nhỏ lên trên mười một tạng phủ. Cách hiểu phổ biến là nối nó với khí Thiếu Dương mùa xuân, khí mở đầu của sự sinh trưởng, chứ không coi Đởm là "ông chủ" của các tạng.
Đọc cho đúng mức
Đởm trong Đông y có liên hệ với túi mật (chứa "tinh trấp", dịch trong) nhưng gánh thêm những vai như quyết đoán, can đảm mà giải phẫu không gán cho túi mật. Người đã cắt túi mật vẫn có kinh Đởm theo nghĩa của sách cổ. Huyệt Kiên Tỉnh trên vai được các giáo trình châm cứu ghi là phải rất thận trọng, không châm sâu và không châm cho người có thai.
Việc nên làm
- Nhớ kinh Đởm bằng hình ảnh "dải bên": hai bên đầu, hai bên sườn, mặt ngoài chân.
- Đau quặn hạ sườn phải, nhất là sau bữa ăn nhiều mỡ, kèm sốt, vàng da hay vàng mắt: cần đi khám ngay, siêu âm bụng, không xoa bóp theo đường kinh để chờ.
- Đau đầu một bên dữ dội đột ngột, hoặc kèm yếu tay chân, nói khó, nhìn mờ: gọi cấp cứu.
Nguồn tham khảo
- Hoàng Đế Nội Kinh – Linh Khu — thiên Kinh Mạch, thiên Căn Kết (đại ý)
- Hoàng Đế Nội Kinh – Tố Vấn — thiên Linh Lan Bí Điển Luận, thiên Lục Tiết Tạng Tượng Luận (nguyên văn), thiên Ngũ Tạng Biệt Luận (phủ kỳ hằng, đại ý)
- Thương Hàn Luận — Trương Trọng Cảnh, câu đề cương bệnh Thiếu Dương
- Nạn Kinh — nạn 45, tám hội huyệt (đại ý)
- Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu, 2008
- Bài mười hai chính kinh, kinh Can, kinh Tam Tiêu trên aihuyenhoc.com
Hỏi bất cứ điều gì về tử vi, Kinh Dịch, phong thuỷ, ngày tốt xấu.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Kinh Đởm có bao nhiêu huyệt?
Kinh Đởm có 44 huyệt mỗi bên theo chuẩn vị trí huyệt năm 2008, trong đó 20 huyệt nằm ở vùng đầu, nhiều hơn bất kỳ kinh nào khác ở vùng này.
Kinh Đởm vượng vào giờ nào?
Theo vòng lưu chú, kinh Đởm vượng giờ Tý, khoảng 23 giờ đến 1 giờ sáng, sau giờ Hợi của kinh Tam Tiêu và trước giờ Sửu của kinh Can.
Huyệt Phong Trì thuộc kinh nào?
Phong Trì thuộc kinh Đởm, nằm ở chỗ lõm dưới xương chẩm hai bên gáy. Đây là huyệt cuối cùng của đoạn kinh Đởm trên đầu.
Đởm trong Đông y có phải là túi mật?
Không hoàn toàn. Đởm có liên hệ với túi mật nhưng là một phủ theo học thuyết tạng tượng, gánh thêm các vai như quyết đoán; Tố Vấn còn xếp nó vào nhóm phủ kỳ hằng.
Nguồn tham khảo: Hoàng Đế Nội Kinh — Linh Khu — thiên Kinh Mạch · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — thiên Linh Lan Bí Điển Luận; thiên Lục Tiết Tạng Tượng Luận; thiên Ngũ Tạng Biệt Luận · Thương Hàn Luận — Trương Trọng Cảnh — thiên Biện Thiếu Dương Bệnh · Nạn Kinh — nạn 45 · Tổ chức Y tế Thế giới, Khu vực Tây Thái Bình Dương — Chuẩn vị trí huyệt châm cứu (2008)
Cả 12 kinh lạc
Kinh PhếKinh Đại TrườngKinh VịKinh TỳKinh TâmKinh Tiểu TrườngKinh Bàng QuangKinh ThậnKinh Tâm BàoKinh Tam TiêuKinh ĐởmKinh Can