Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư và các sách Kỳ Môn: cuốn nào cổ, cuốn nào gán tên, đọc gì cho đáng tin

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư và các sách Kỳ Môn: cuốn nào cổ, cuốn nào gán tên, đọc gì cho đáng tin

Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư là bộ sách Kỳ Môn đề tên Lưu Bá Ôn, phổ biến nhất ở Việt Nam. Văn bản là tập hợp muộn; chưa có chứng cứ Lưu Cơ viết nó. Phần lập bàn khớp các sách cũ hơn và dùng được; phần phù chú pha thêm nên tách riêng. Muốn đọc gốc, hãy bắt đầu từ Yên Ba Điếu Tẩu Ca.

Kỳ Môn có bao nhiêu lớp sách

Sách Kỳ Môn không đến cùng một lúc. Xếp theo niên đại văn bản thì thấy rõ cái gì cổ, cái gì là lớp bồi.

LớpVăn bảnNiên đại văn bảnGhi chú
Tên gọi"Độn giáp" trong danh sách các thuật ở lời tựa Phương thuật truyện, Hậu Hán Thưsử đời Nam Triều chép việc Đông Hánchỉ có tên, không có phép
Sách đã mấtnhiều đầu sách độn giáp trong thư mục các đời Tùy, Đườngthế kỷ VII – Xbiết tên, không còn chữ
Sách triều đìnhCảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh (Tứ Khố gọi Độn Giáp Ngọc Hàm Phù Ứng Kinh), Dương Duy Đức soạn theo lệnh vua Tống Nhân Tông, vua tự viết tựaBắc Tống, niên hiệu Cảnh Hựu (1034 – 1038)thường được coi là sách độn giáp có hệ thống sớm nhất còn lại
Bài caYên Ba Điếu Tẩu Ca, tương truyền Triệu Phổgán đời Tống; văn bản lưu hành qua các sách Minhxương sống kỹ thuật của mọi sách về sau
Sách MinhKỳ Môn Độn Giáp Thống Tông; Độn Giáp Diễn Nghĩa hai quyển của Trình Đạo Sinh, người Hải Ninhđời MinhDiễn Nghĩa được chép vào Tứ Khố, có kèm Yên Ba Điếu Tẩu Ca
Sách gán tênBí Cấp Toàn Thư, Bí Cấp Đại Toàn… đề tên Lưu Cơcác bản in phổ biến từ cuối Thanh, đầu thế kỷ XXgom nhiều nguồn, thêm phù chú

Bảng cho thấy một điều quan trọng: tên Kỳ Môn cổ hơn sách Kỳ Môn rất nhiều. Từ chỗ "độn giáp" chỉ là một cái tên trong sử Hán tới chỗ có một văn bản lập bàn hoàn chỉnh là gần một nghìn năm. Truyền thuyết Hoàng Đế, Phong Hậu, Khương Thái Công, Trương Lương, Gia Cát Lượng lấp vào khoảng trống ấy (bài Kỳ Môn Độn Giáp là gì tách truyền thuyết với văn bản).

Bí Cấp Toàn Thư: có gì trong đó

Các bản lưu hành mang tên Bí Cấp không hoàn toàn giống nhau, nhưng thường gồm ba khối:

  1. Lý thuyết lập bàn: tiết khí, ba nguyên, chín cục dương, chín cục âm, cách xếp tam kỳ lục nghi, cửu tinh, bát môn, bát thần. Phần này phần lớn lặp lại, diễn giải và lập bảng từ Yên Ba Điếu Tẩu Ca và các sách Minh.
  2. Cách cục và ứng dụng: các cách tốt xấu như rồng quay đầu, chim sa tổ; chọn giờ, chọn hướng cho việc đi, việc cầu, việc binh (bài cách cục Kỳ Môn).
  3. Phù chú, pháp thuật: phép "độn hình", phù lục, nghi thức theo lối Đạo giáo. Đây là lớp khác hẳn về bản chất.

Chuyện pha phù lục vào Kỳ Môn không mới. Các quan biên tập Tứ Khố, viết đề yếu cho Độn Giáp Diễn Nghĩa, đã ghi nhận:

Hậu nhân hựu sam tạp dĩ Đạo gia phù lục chi pháp, ích quái đản bất khả cứu cật.

Dịch: Người đời sau lại trộn thêm phép phù lục của Đạo gia, càng quái đản không sao tra xét được. — Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục, đề yếu Độn Giáp Diễn Nghĩa

Cùng đoạn ấy, họ nhận xét Kỳ Môn là môn "có lý lẽ nhất trong các phương kỹ", và kể rằng vì bị pha tạp nên về sau Lục Nhâm thịnh còn độn giáp gần như bỏ. Tức là ngay từ thế kỷ XVIII, người đọc nghiêm túc đã tách phần tính bàn khỏi phần phù lục.

Khối thứ ba là chỗ cần tỉnh táo nhất. Trong truyền thống Trung Hoa có hai thứ cùng gọi là Kỳ Môn: thuật Kỳ Môn, một phép tính bàn theo thời gian thuộc tam thức; và pháp Kỳ Môn, các nghi thức Đạo giáo mượn tên ấy. Bí Cấp trộn hai thứ vào một cuốn. Trang này chỉ bàn phần thuật, và không hướng dẫn phần pháp.

Lưu Bá Ôn có viết cuốn này không

Theo những gì chúng tôi tra được, câu trả lời là không có chứng cứ.

  • Lưu Cơ (1311 – 1375) là nhân vật lịch sử có thật, khai quốc công thần nhà Minh, Minh Sử chép ông giỏi thiên văn. Văn tập của ông còn, không có sách Kỳ Môn.
  • Tên ông được gắn cho rất nhiều sách thuật số về sau: Hoàng Kim Sách của Lục Hào, lời chú Trích Thiên Tủy, bài sấm Thiêu Bính Ca. Bài Lưu Bá Ôn đi qua từng cuốn.
  • Các tên kiểu "bí cấp", "toàn thư", "đại toàn" là lối đặt tên quen thuộc của thị trường sách in thuật số cuối Thanh, đầu Dân Quốc: gom nhiều nguồn, đề một danh nhân để bán.

Gán tên không làm nội dung kỹ thuật sai đi. Nó chỉ có nghĩa: đừng đọc sách như "bí truyền của Lưu Bá Ôn", mà đọc như một tập hợp do người đời sau soạn, có chỗ tốt chỗ dở.

Đọc sách nào trước

Mục đíchNên đọcVì sao
Nắm xương sống kỹ thuậtYên Ba Điếu Tẩu Ca, kèm một bản chúngắn, mọi sách sau đều dựa vào; học thuộc được
Hiểu lý do của từng quy tắcĐộn Giáp Diễn Nghĩasách Minh, Tứ Khố khen "ý gọn lời đủ" về phép dùng kỳ, đặt nhuận
Xem cách cục và ứng dụng đầy đủKỳ Môn Độn Giáp Thống Tôngbao quát, nhiều bảng
Đối chiếu bản Việt đang cóBí Cấp Toàn Thưphổ biến, dễ tìm; đọc phần lập bàn, bỏ qua phù chú
Nghiên cứu lịch sửCảnh Hựu Phù Ứng Kinhcho thấy phép đời Tống, khác các sách Minh ở một số chi tiết

Người mới thường làm ngược: mua Bí Cấp vì tên hấp dẫn, rồi lạc giữa bảng, cách cục và phù chú. Bắt đầu bằng bài ca vài trăm chữ rồi mới mở sách dày sẽ nhanh hơn nhiều.

Bốn câu hỏi để thẩm một sách Kỳ Môn

Áp được cho mọi bản dịch, bản in, kể cả tài liệu trên mạng.

  1. Văn bản xuất hiện khi nào? Có trong thư mục cổ nào không, bản in sớm nhất năm nào. Không trả lời được thì coi như sách muộn.
  2. Người đề tên có tác phẩm nào khác xác nhận? Một danh nhân không để lại dòng nào về Kỳ Môn trong văn tập thì lời đề tên rất yếu.
  3. Phần lập bàn có khớp Yên Ba Điếu Tẩu Ca không? Mười tám cục, Đông Chí khởi dương độn cục một, Hạ Chí khởi âm độn cục chín. Lệch ở đây là dấu hiệu chép sai hoặc phái riêng; phải hỏi lý do.
  4. Sách có hứa điều không kiểm được không? Tàng hình, giữ mạng, thắng mọi việc. Sách hứa càng lớn thì càng cần đọc như văn hoá, không như hướng dẫn.

Một chỗ các sách khác nhau thật mà người đọc nên biết: cách định nguyên. Phép siêu thần tiếp khí và phép chia bổ có thể cho cùng một giờ hai bàn khác hẳn, thậm chí khác chiều âm dương. Ví dụ những ngày 16 – 20/12/2026, một phép đã sang dương độn trong khi phép kia còn âm độn (bài siêu thần tiếp khí). Một cuốn sách không nói rõ mình theo phép nào là thiếu một thông tin quan trọng.

Sách cổ nói gì

Âm dương thuận nghịch diệu nan cùng, nhị chí hoàn hương nhất cửu cung.

Dịch: Âm dương đi thuận đi nghịch, chỗ diệu khó cùng; hai ngày chí trở về quê ở cung một và cung chín. — Yên Ba Điếu Tẩu Ca, câu mở đầu

Bình: câu thơ ấy chứa một quy tắc kỹ thuật: Đông Chí khởi dương độn từ cung một, Hạ Chí khởi âm độn từ cung chín. Đây là phép thử đầu tiên cho mọi sách Kỳ Môn. Một cuốn "bí cấp" mà phần lập bàn không khớp câu này thì cái "bí" ấy cần được giải thích.

Hậu Hán Thư, lời tựa Phương thuật liệt truyện, đại ý: kể các thuật lưu hành, trong đó có phong giác, độn giáp, thất chính, nguyên khí… Chỉ là một danh sách tên.

Bình: đặt hai nguồn cạnh nhau là thấy khoảng cách. Thời Hán có cái tên; phải đợi nhiều thế kỷ mới có bài ca dạy cách lập bàn. Mọi lời nói "Kỳ Môn có từ Hoàng Đế" là truyền thuyết lấp khoảng trống ấy.

Đọc cho đúng mức

  • Niên đại và nội dung các sách nêu trên ghi theo mô tả thư mục và bản lưu hành; chúng tôi chưa đối chiếu trọn từng bộ. Số quyển của các bản Bí Cấp khác nhau, nên không ghi.
  • "Sách sớm nhất còn lại" là đánh giá thông dụng trong giới nghiên cứu, có thể đổi khi có phát hiện mới.
  • Kỳ Môn là một hệ quy ước tính bàn theo thời gian. Không có nghiên cứu đối chứng nào cho thấy chọn giờ, chọn hướng theo Kỳ Môn làm đổi kết quả việc.
  • Phần phù chú trong các bản Bí Cấp là tư liệu tín ngưỡng, không nên làm theo; càng không trả tiền cho ai bán "phép Kỳ Môn" để giữ của hay chữa bệnh.

Việc nên làm

  • Học thuộc vài câu đầu Yên Ba Điếu Tẩu Ca trước khi mở bất kỳ sách dày nào.
  • Khi mua một bản dịch, xem lời giới thiệu có nói rõ dịch từ bản nào, phép định nguyên nào không.
  • Đọc Bí Cấp như một tập hợp: chép riêng phần lập bàn để so với bài ca, bỏ qua phần phù chú.
  • Tự lập một bàn bằng tay theo bài lập bàn Kỳ Môn bằng tay để có thước đo khi đọc sách.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Hậu Hán Thư — lời tựa Phương thuật liệt truyện, danh sách các thuật (đại ý).
  • Dương Duy Đức — Cảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh, Bắc Tống (theo mô tả thư mục, đại ý).
  • Yên Ba Điếu Tẩu Ca — tương truyền Triệu Phổ, câu mở đầu (nguyên văn theo bản lưu hành).
  • Kỳ Môn Độn Giáp Thống Tông, đời Minh (đại ý).
  • Trình Đạo Sinh — Độn Giáp Diễn Nghĩa, hai quyển, đời Minh, bản chép trong Tứ Khố Toàn Thư (đại ý).
  • Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục, quyển 109 — đề yếu Độn Giáp Diễn Nghĩa (câu về phù lục dẫn nguyên văn, đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán).
  • Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư — đề tên Lưu Cơ, các bản lưu hành (mô tả nội dung, đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư có phải của Lưu Bá Ôn?

Chưa có chứng cứ. Văn tập Lưu Cơ không có sách Kỳ Môn; các bản Bí Cấp lưu hành là tập hợp muộn, đề tên ông theo lối chung của sách thuật số cuối Thanh.

Sách Kỳ Môn cổ nhất còn lại là sách nào?

Thường được coi là Cảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh do Dương Duy Đức soạn đời Bắc Tống. Tên "độn giáp" thì đã có trong sử Hán, nhưng sách thời đó không còn.

Người mới nên đọc sách Kỳ Môn nào trước?

Yên Ba Điếu Tẩu Ca kèm một bản chú, vì ngắn và là xương sống kỹ thuật của mọi sách sau. Rồi tới Độn Giáp Diễn Nghĩa hoặc Thống Tông, cuối cùng mới đối chiếu Bí Cấp.

Phần phù chú trong Bí Cấp có phải là Kỳ Môn không?

Đó là pháp thuật Đạo giáo mượn tên Kỳ Môn, khác với thuật Kỳ Môn là phép tính bàn theo thời gian. Bí Cấp trộn hai thứ; nên tách riêng phần tính bàn ra đọc.

Vì sao hai sách Kỳ Môn cho hai bàn khác nhau cùng một giờ?

Thường do khác phép định nguyên (siêu thần tiếp khí hay chia bổ) hoặc khác phép xoay bàn (chuyển bàn hay phi bàn). Sách tốt phải nói rõ mình theo phép nào.

Nguồn tham khảo: Hậu Hán Thư — Phương thuật liệt truyện, lời tựa · Cảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh — Dương Duy Đức, Bắc Tống · Yên Ba Điếu Tẩu Ca — tương truyền Triệu Phổ đời Tống — câu mở đầu · Kỳ Môn Độn Giáp Thống Tông — đời Minh · Độn Giáp Diễn Nghĩa — Trình Đạo Sinh, đời Minh, bản Tứ Khố · Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục — đề yếu Độn Giáp Diễn Nghĩa · Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư — đề tên Lưu Cơ, các bản lưu hành

Táng Thư của Quách Phác: văn bản gốc của chữ "phong thủy", trích, dịch và bình từng câuTáng Thư gắn tên Quách Phác, sách gốc của chữ phong thủy: ba thiên Nội, Ngoại, Tạp của Ngô Trừng; trích, dịch, bình câu sinh khí,…
Địa Lý Ngũ Quyết của Triệu Cửu Phong: năm quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng và đường nối giữa hình thế với lý khíĐịa Lý Ngũ Quyết của Triệu Cửu Phong đời Thanh: năm quyết long, huyệt, sa, thủy, hướng; vì sao ba quyết cuối đọc trên một vòng tr…
Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung: lịch sử đặt lên đồng hồ nguyên, hội, vận, thếHoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung: bốn phần của sách, vòng 129.600 năm, vì sao đời Nghiêu nằm giữa một nguyên, và cách đọc sách nh…
Thần Phong Thông Khảo của Trương Nam: thuyết bệnh – dược trong Bát TựThần Phong Thông Khảo của Trương Nam đời Minh: thuyết bệnh dược trong Bát Tự, câu có bệnh mới là quý, cách tìm bệnh và thuốc, so …
Hà Lạc Lý Số: lập quẻ mệnh từ bát tự bằng số Hà Đồ và Lạc ThưHà Lạc Lý Số đổi tám chữ năm tháng ngày giờ thành số Hà Đồ, Lạc Thư rồi lập quẻ mệnh; cách tính từng bước có ví dụ, chỗ các bản l…
Đọc sách huyền học cổ: chữ Hán chép sai, bản in lậu, bản dịch lệch và cách tự đối chiếuĐọc sách huyền học cổ thế nào cho khỏi bị dẫn sai: bốn lớp lệch giữa câu gốc và câu bạn đọc, dấu hiệu bản in lậu, và năm bước đối…