Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy: đọc Kinh Dịch như sách bói, và vì sao nó thành bản chú chuẩn cho khoa cử sáu thế kỷ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc
Chu Dịch Bản Nghĩa là sách chú Kinh Dịch của Chu Hy đời Nam Tống. "Bản nghĩa" là nghĩa gốc, và nghĩa gốc theo Chu Hy là: Dịch vốn được làm ra để bói. Ông tách lời kinh khỏi các thiên truyện, đặt chín đồ ở đầu sách. Từ đời Nguyên, sách cùng Trình Truyện thành bản chú chuẩn cho khoa cử, tới thời Nguyễn ở ta.
Một luận điểm gây sốc với chính phe mình
Chu Hy là người kế thừa lớn nhất của anh em họ Trình. Thế nhưng trong học Dịch, ông nói điều mà Trình Di không nói: Kinh Dịch, trước khi là sách đạo lý, là sách bói. Trong các buổi giảng được học trò ghi lại ở Chu Tử Ngữ Loại, ông nhắc đi nhắc lại ý này, đại ý: Dịch vốn làm ra để bói; người đời sau chỉ giảng đạo lý mà bỏ phần bói thì không hiểu được vì sao lời quẻ, lời hào lại nói như vậy.
Đây không phải lời bênh vực bói toán. Đó là một phương pháp đọc: muốn hiểu một câu trong sách cổ, hãy hỏi nó được viết ra để làm gì. Một lời hào như "tiềm long vật dụng" (rồng ẩn, chớ dùng) đọc như lời khuyên đạo đức thì mơ hồ; đọc như lời đoán cho người vừa gieo được hào ấy thì rõ ràng: việc chưa tới lúc, đừng làm.
Trình Di, trong Dịch Truyện (thường gọi Trình Truyện), đọc Dịch gần như hoàn toàn bằng nghĩa lý: mỗi quẻ là một tình thế đạo đức, mỗi hào là một bài học xử thế. Chu Hy kính bản chú ấy, nhưng cho rằng nó đã đi quá xa khỏi gốc. Bài tượng số và nghĩa lý đặt hai dòng này cạnh nhau.
Một câu, hai cách đọc: "Nguyên, hanh, lợi, trinh"
Lời quẻ Càn chỉ có bốn chữ, và chính bốn chữ này cho thấy rõ nhất Chu Hy khác người trước ở đâu.
| Cách đọc | Bốn chữ được hiểu là | Nguồn |
|---|---|---|
| Văn Ngôn truyện | bốn đức: nguyên là đầu của điều thiện, hanh là chỗ hội của cái đẹp, lợi là sự hoà của nghĩa, trinh là cốt cán của việc | Văn Ngôn, quẻ Càn |
| Chu Hy, Bản Nghĩa | một lời đoán: rất hanh thông, nhưng phải lợi ở chỗ giữ chính và bền thì mới giữ được tới cuối | lời chú quẻ Càn, đại ý |
Văn Ngôn tách bốn chữ thành bốn phẩm chất. Chu Hy đọc chúng thành một câu có điều kiện: gieo được quẻ Càn, sáu hào không động, thì việc rất thông, với điều kiện giữ ngay thẳng. Hai lối đều có trong truyền thống. Nhưng lối của Chu Hy giải thích được vì sao cụm "lợi trinh" xuất hiện ở hàng chục quẻ khác mà rõ ràng không phải bốn đức: nó là công thức đoán, "lợi về sự giữ chính".
Bản Nghĩa đi theo lối này suốt sách. Lời chú các hào thường kết bằng một câu dạng "người bói gặp hào này thì…", đại ý: xem cái tượng ấy mà suy ngẫm lời đoán. Cái khung "tượng – chiêm" (hình ảnh – lời đoán) lặp đi lặp lại, làm sách gọn hơn Trình Truyện rất nhiều.
Thứ tự kinh và truyện: khôi phục rồi bị xáo lại
Kinh Dịch hôm nay gồm hai lớp: phần kinh (lời quẻ, lời hào của 64 quẻ) và phần truyện (Thoán, Tượng, Văn Ngôn, Hệ Từ, Thuyết Quái, Tự Quái, Tạp Quái, gọi chung là Thập Dực). Bài các tầng chữ trong Kinh Dịch giải từng lớp.
Từ đời Hán, các nhà chú đã cắt lời Thoán, lời Tượng ra mà chèn vào ngay dưới từng quẻ, từng hào cho tiện đọc. Bản của Vương Bật đời Ngụy theo lối ấy và thành bản phổ biến. Kết quả là người đọc không còn phân biệt được đâu là lời gốc, đâu là lời giảng thêm.
Đời Tống, Lữ Tổ Khiêm dựng lại một bản "cổ Chu Dịch": hai thiên kinh, mười thiên truyện, để riêng. Chu Hy theo bản này cho Bản Nghĩa, thành mười hai thiên. Với ông, tách riêng là có ý: phải đọc lời kinh như lời bói của người xưa trước, rồi mới đọc truyện như lời giảng của người sau.
Rồi chuyện trớ trêu xảy ra. Đầu đời Minh, triều đình soạn Chu Dịch Đại Toàn (1415) làm sách chuẩn cho thi cử, in Trình Truyện và Bản Nghĩa chung một bản. Vì Trình Truyện theo thứ tự của Vương Bật, lời chú của Chu Hy bị cắt ra và xếp theo thứ tự ấy. Các bản Bản Nghĩa in riêng về sau cũng thường lấy từ đây. Các nhà văn bản đời Thanh, trong đó có người soạn đề yếu Tứ Khố, đã chỉ ra: bản mà sĩ tử học hàng trăm năm mang tên Chu Hy nhưng mất đúng cái thứ tự mà Chu Hy cố khôi phục.
Bài học cho người đọc hôm nay: muốn đọc Chu Hy đúng ý, tìm bản Bản Nghĩa mười hai thiên theo thứ tự cổ, không phải bản đã trộn vào Đại Toàn.
Chín đồ ở đầu sách
Bản Nghĩa mở đầu bằng chín đồ: Hà Đồ, Lạc Thư, bốn đồ "Phục Hy" (thứ tự và phương vị của tám quẻ và của 64 quẻ), hai đồ "Văn Vương" (thứ tự và phương vị tám quẻ), và một đồ quái biến. Bốn đồ Phục Hy lấy từ Thiệu Ung; Hà Đồ, Lạc Thư đi theo dòng truyền từ đạo sĩ Trần Đoàn (bài tiên thiên đồ).
Chính vì in trong sách chuẩn khoa cử, các đồ này trở thành hình ảnh "Kinh Dịch" trong đầu mọi người học, đến mức nhiều người tưởng chúng có từ thời Phục Hy. Thực ra chúng là sản phẩm đời Tống.
Còn một chuyện văn bản nữa: đời Thanh có học giả, như Vương Mậu Hoằng, cho rằng chín đồ đặt ở đầu sách không hẳn do Chu Hy sắp, hoặc đã bị người sau sửa. Vấn đề chưa ngã ngũ. Điều chắc hơn là Chu Hy có bàn các đồ ấy trong Dịch Học Khải Mông, sách ông soạn cùng Thái Nguyên Định khoảng năm 1186.
Bản Nghĩa và Khải Mông: sách đọc và sách làm
Nếu Bản Nghĩa là sách đọc lời quẻ, thì Khải Mông là sách làm: phép bói cỏ thi, cách tính lão âm lão dương, và quy tắc đọc khi có nhiều hào động. Bản Nghĩa có một phần ngắn "Thệ nghi" mô tả nghi thức bói cỏ thi, còn quy tắc chi tiết nằm ở Khải Mông (bài quẻ nhiều hào động).
Hai sách bổ sung nhau đúng theo luận điểm của Chu Hy: nếu Dịch là sách bói, thì bản chú phải đi kèm một phép bói chạy được.
Sáu thế kỷ làm sách chuẩn
| Thời | Sự kiện | Bản Nghĩa ở đâu |
|---|---|---|
| Nguyên | khoa cử mở lại từ năm 1315, Kinh Dịch theo chú của Trình, Chu | thành bản chú bắt buộc |
| Minh | Chu Dịch Đại Toàn (1415) | in chung với Trình Truyện, bị xếp lại theo thứ tự Vương Bật |
| Thanh | Chu Dịch Chiết Trung (1715), soạn theo lệnh Khang Hy | vẫn lấy Bản Nghĩa làm trục, thêm chú các nhà |
| Lê, Nguyễn ở Việt Nam | thi Kinh nghĩa theo bộ Ngũ Kinh Đại Toàn | sĩ tử học Dịch qua lời Trình, Chu |
Ở ta, bản dịch và giảng Chu Dịch của Phan Bội Châu theo sát Trình Truyện và Bản Nghĩa, đặt hai thuyết cạnh nhau khi chúng khác. Nhiều người đọc Kinh Dịch tiếng Việt hôm nay vì thế đang đọc Chu Hy mà không biết.
Sách cổ nói gì
Càn: nguyên, hanh, lợi, trinh.
Nguyên giả, thiện chi trưởng dã; hanh giả, gia chi hội dã; lợi giả, nghĩa chi hoà dã; trinh giả, sự chi cán dã.
Dịch: Nguyên là đầu của điều thiện; hanh là chỗ hội của cái đẹp; lợi là sự hoà của nghĩa; trinh là cốt cán của việc. — Chu Dịch, Văn Ngôn truyện, quẻ Càn
Chu Hy, Chu Dịch Bản Nghĩa, đại ý lời chú quẻ Càn: Văn Vương cho rằng đạo Càn rất thông mà rất chính, nên người bói được quẻ này mà sáu hào không đổi thì lời đoán là rất hanh thông, nhưng phải lợi ở sự chính và bền, rồi mới giữ được tới cuối.
Bình: đặt hai lời cạnh nhau là thấy rõ cách Chu Hy làm việc. Ông không bác Văn Ngôn; ông chỉ nói đó là lời giảng của tầng sau. Tầng gốc là một lời đoán có điều kiện. Ai từng gieo quẻ sẽ thấy cách đọc này dùng được ngay.
Đọc cho đúng mức
- "Dịch vốn là sách bói" là luận điểm về nguồn gốc văn bản, được khảo cổ học hiện đại ủng hộ phần nào (các thẻ tre, bạch thư ghi việc bói). Nó không có nghĩa Chu Hy tin mọi lời bói đều ứng.
- Bản Nghĩa là một cách đọc trong nhiều cách. Phái tượng số đời Hán và phái nghĩa lý của Vương Bật, Trình Di đều có lý của họ.
- Chín đồ đầu sách là sản phẩm đời Tống, không phải di vật của Phục Hy, Văn Vương.
- Bài này dẫn lời chú của Chu Hy theo đại ý; chúng tôi không trích nguyên văn chữ Hán phần chú để tránh sai chữ.
Việc nên làm
- Khi đọc một quẻ, thử đọc lời quẻ theo hai cách: như lời đạo lý và như lời đoán có điều kiện. Cách thứ hai thường làm câu chữ sáng ra.
- Tìm bản Bản Nghĩa theo thứ tự cổ mười hai thiên nếu muốn đọc đúng ý Chu Hy.
- Đọc kèm Bạch thư Chu Dịch Mã Vương Đôi để thấy Kinh Dịch thời Hán còn có những thứ tự khác.
- Muốn tự bói theo lối Chu Hy, đọc thêm quy tắc hào động trong Khải Mông trước khi gieo.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa: lời chú quẻ Càn, các hào; chín đồ đầu sách; Thệ nghi (dẫn đại ý).
- Chu Dịch — lời quẻ Càn và Văn Ngôn truyện (nguyên văn).
- Chu Tử Ngữ Loại — các đoạn Chu Hy giảng Dịch vốn là sách bói (đại ý).
- Chu Hy, Thái Nguyên Định — Dịch Học Khải Mông (khoảng 1186), đối chiếu phần phép bói.
- Chu Dịch Đại Toàn (1415), Chu Dịch Chiết Trung (1715) — vị trí của Bản Nghĩa trong sách chuẩn (đại ý).
- Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục — đề yếu về thứ tự bản Bản Nghĩa (đại ý).
Câu hỏi thường gặp
Chu Dịch Bản Nghĩa khác Trình Truyện ở điểm nào?
Trình Truyện đọc Dịch gần như hoàn toàn bằng đạo lý xử thế. Bản Nghĩa của Chu Hy cho rằng Dịch vốn là sách bói, nên đọc lời quẻ, lời hào như lời đoán có điều kiện, gọn hơn nhiều.
Vì sao gọi là "bản nghĩa"?
Bản nghĩa là nghĩa gốc. Chu Hy muốn trả Kinh Dịch về mục đích ban đầu của nó là bói, rồi mới đến lớp giảng giải đạo lý của các thiên truyện về sau.
Bản Nghĩa dùng thứ tự kinh truyện nào?
Thứ tự cổ mười hai thiên, tách hai thiên kinh khỏi mười thiên truyện, theo bản Lữ Tổ Khiêm dựng lại. Nhưng bản in trong Chu Dịch Đại Toàn đời Minh đã xếp lại theo thứ tự Vương Bật.
Chín đồ ở đầu Bản Nghĩa có từ thời Phục Hy không?
Không. Chúng là đồ đời Tống, phần lớn lấy từ Thiệu Ung và dòng truyền Hà Đồ, Lạc Thư từ Trần Đoàn. Có học giả đời Thanh còn nghi việc sắp đồ không hẳn do Chu Hy.
Sĩ tử Việt Nam xưa có học Bản Nghĩa không?
Có, gián tiếp qua bộ Ngũ Kinh Đại Toàn dùng cho thi Kinh nghĩa thời Lê, Nguyễn, trong đó phần Dịch lấy Trình Truyện và Bản Nghĩa làm chú chính.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy (1130–1200) — lời chú quẻ Càn; các đồ đầu sách; Thệ nghi · Chu Dịch — Văn Ngôn truyện, quẻ Càn · Chu Tử Ngữ Loại — các đoạn bàn về Dịch · Chu Dịch Đại Toàn (1415) và Chu Dịch Chiết Trung (1715) · Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục — đề yếu Chu Dịch Bản Nghĩa