Hỏi chuyện tình cảm bằng Kinh Dịch: bốn quẻ Hàm, Hằng, Tiệm, Quy Muội

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 15 phút đọc

Hỏi chuyện tình cảm bằng Kinh Dịch: bốn quẻ Hàm, Hằng, Tiệm, Quy Muội

Kinh Dịch có bốn quẻ nói thẳng về chuyện trai gái và hôn nhân: Hàm là cảm nhau, Hằng là bền lâu, Tiệm là cưới đúng lễ từng bước, Quy Muội là một cuộc về nhà chồng lệch chỗ. Đọc bốn quẻ này không để đoán duyên phận, mà để thấy người xưa nghĩ một mối quan hệ đi qua những chặng nào và vấp ở đâu.

Muốn đọc đúng lời hào của bốn quẻ, cần biết một chút về tục cưới hỏi thời Chu, vì lời hào được viết bởi người sống trong tục ấy. Bài này đặt từng quẻ vào bối cảnh đó.

Bốn quẻ, bốn người con trong nhà

Trước khi vào từng quẻ, hãy nhìn cấu tạo. Theo Thuyết Quái, tám quẻ đơn ứng với tám người trong nhà; bốn quẻ đơn dùng ở đây là bốn người con:

  • Chấn là con trai cả (trưởng nam), Tốn là con gái cả (trưởng nữ).
  • Cấn là con trai út (thiếu nam), Đoài là con gái út (thiếu nữ).

Bốn quẻ hôn nhân là bốn cách ghép những người con ấy:

QuẻTrênDướiAi gặp aiĐứng cặp với
Hàm (31)Đoài, thiếu nữCấn, thiếu namtrai trẻ, gái trẻ; trai đứng dướiHằng
Hằng (32)Chấn, trưởng namTốn, trưởng nữhai người đã trưởng thành; trai trên, gái dướiHàm
Tiệm (53)Tốn, trưởng nữCấn, thiếu namngười con gái đã đủ tuổi, đi đúng lễQuy Muội
Quy Muội (54)Chấn, trưởng namĐoài, thiếu nữcô gái trẻ theo người đàn ông lớn tuổiTiệm

Hàm và Hằng là một cặp lật ngược của nhau, Tiệm và Quy Muội cũng vậy. Nghĩa là trong mắt người xếp quẻ, cảm nhau và bền lâu là hai mặt của một chuyện; cưới đúng lễ và cưới lệch chỗ cũng là hai mặt của một chuyện. Cách đọc từng cặp như vậy được nói ở bài bảng 64 quẻ.

Các nhà chú giải đời Tống, tiêu biểu là Trình Di, đã gom bốn quẻ này lại để bàn về đạo vợ chồng. Bài này đi theo lối gom ấy.

Hàm: cảm nhau, từ ngón chân lên đến lưỡi

Hàm là đầm (Đoài) trên núi (Cấn). Lời quẻ: "Hàm, hanh, lợi trinh, thủ nữ cát", cảm ứng thì thông, lợi giữ chính, lấy vợ thì tốt.

Thoán truyện giảng chữ "Hàm" là "cảm", rồi chỉ ra một chi tiết của hình quẻ: chàng trai trẻ (Cấn) ở dưới cô gái trẻ (Đoài). Người con trai hạ mình trước, đó là lý do quẻ thông. Theo tục thời Chu, nhà trai là bên chủ động đi hỏi, mang lễ sang nhà gái; hình quẻ phản ánh đúng tục ấy. Đại Tượng thêm một lời dặn: "Sơn thượng hữu trạch, Hàm; quân tử dĩ hư thụ nhân", trên núi có đầm là Hàm; người quân tử nhân đó để lòng trống mà đón nhận người. Núi phải có chỗ trũng thì đầm mới đọng được nước. Cảm được người khác bắt đầu từ việc trong lòng mình còn chỗ.

Sáu hào của Hàm đi theo thân người, từ dưới lên:

HàoChỗ cảmLời phán
Sơ lụcngón chân cái (mẫu)không có lời cát hung, mới động chút ít
Lục nhịbắp chân (phì)động thì xấu, ở yên thì tốt
Cửu tamđùi (cổ), "chấp kỳ tùy"cứ bám theo người mà đi thì đáng tiếc
Cửu tứkhông nêu bộ phận, chỗ của tâm"đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư": qua lại bồn chồn, chỉ bạn bè theo ý nghĩ của mình
Cửu ngũthịt sau lưng (mỗi)không ăn năn
Thượng lụcmá, mép, lưỡichỉ cảm bằng lời nói

Đọc như một câu chuyện, sáu hào này rất gần đời thường. Ngón chân, bắp chân, đùi là những chỗ động theo bản năng: chưa nghĩ đã muốn bước, và lời hào khuyên ở yên. Cửu tứ là chỗ tâm, và lời hào tả đúng cái bồn chồn của người đang thương: nghĩ tới nghĩ lui, chỉ những người cùng ý mới theo mình. Hệ Từ hạ lấy chính câu này để bàn: thiên hạ việc gì phải nghĩ, việc gì phải lo, mọi đường khác nhau rồi cũng về một chỗ. Cái cảm thật không cần tính toán đến bồn chồn. Còn thượng lục, cảm bằng má, mép, lưỡi, là thứ cảm dừng ở lời nói. Tiểu Tượng nói thẳng: chỉ là mở miệng nói suông.

Hàm vì thế không phải "quẻ có người yêu". Nó là quẻ về cách cảm: cảm bằng thân mà vội thì hỏng, cảm bằng lời thì nông, cảm bằng một lòng để trống thì thông.

Hằng: bền không phải đứng yên

Hằng là sấm (Chấn) trên gió (Tốn). Lời quẻ: "Hằng, hanh, vô cữu, lợi trinh, lợi hữu du vãng", bền thì thông, không lỗi, lợi giữ chính, lợi có chỗ đi.

Chú ý vế cuối: "lợi hữu du vãng". Quẻ của sự bền lâu lại khuyên đi. Thoán truyện giải bằng hình ảnh trời đất: mặt trời mặt trăng được trời giữ nên soi lâu, bốn mùa biến hoá nên thành được lâu. Bền trong Dịch là bền như bốn mùa, tức đổi liên tục mà không mất nhịp, chứ không phải đóng băng. Đại Tượng: "Lôi phong, Hằng; quân tử dĩ lập bất dịch phương", sấm gió là Hằng; người quân tử nhân đó đứng vững, không đổi hướng. Sấm và gió là hai thứ động nhất trong tám tượng, vậy mà ghép lại thành quẻ "bền". Cái không đổi là hướng, không phải là sự đứng im.

Ba hào của Hằng đáng đọc kỹ:

  • Sơ lục: "Tuấn hằng, trinh hung, vô du lợi", đào sâu cái bền ngay từ đầu, cứ giữ như vậy thì xấu, không có gì lợi. Một mối quan hệ mới bắt đầu mà đã đòi lời hứa gắn bó trọn đời, đòi người kia phải như mình ngay, là đi ngược quẻ. Bền là thứ đến sau, không phải thứ đòi trước.
  • Cửu tam: "Bất hằng kỳ đức, hoặc thừa chi tu", không giữ bền đức của mình thì có khi chuốc lấy hổ thẹn. Đây là câu Khổng Tử từng dẫn trong Luận Ngữ rồi bình "bất chiêm nhi dĩ hĩ", chẳng cần bói, như bài Kinh Dịch là gì đã kể.
  • Thượng lục: "Chấn hằng, hung", lấy sự rung lắc làm thường, xấu. Ở đỉnh quẻ, cái bền đã thành cái chao đảo liên miên. Nhà nào cũng có lúc lục đục; khi lục đục thành nếp sống thường ngày thì đó là chỗ quẻ báo.

Hào lục ngũ có câu dễ gây tranh cãi: "Hằng kỳ đức, trinh, phụ nhân cát, phu tử hung", giữ bền đức mình, với đàn bà thì tốt, với đàn ông thì xấu. Tiểu Tượng giải theo lễ thời ấy: đàn bà theo một người đến trọn đời, đàn ông thì phải tuỳ việc mà quyết. Câu này phản ánh luân lý của một xã hội cụ thể. Đọc hôm nay, nên giữ lấy cái lõi của nó, rằng sự bền có hai kiểu, bền theo và bền tự quyết, và mỗi người trong một nhà cần cả hai; còn việc gán kiểu nào cho giới nào là lớp lễ giáo đã cũ.

Tạp Quái truyện tóm cặp quẻ trong bốn chữ: "Hàm, tốc dã; Hằng, cửu dã", Hàm là nhanh, Hằng là lâu. Cảm thì đến nhanh, bền thì phải lâu mới biết.

Tiệm: chim nhạn và sáu bước của lễ cưới

Tiệm là gió, cây (Tốn) trên núi (Cấn). Lời quẻ: "Tiệm, nữ quy cát, lợi trinh", tiến dần như con gái về nhà chồng thì tốt, lợi giữ chính.

Để hiểu vì sao quẻ "tiến dần" lại lấy hình ảnh về nhà chồng, hãy mở thiên Sĩ Hôn Lễ trong sách Nghi Lễ. Lễ cưới của tầng lớp sĩ thời Chu đi qua nhiều bước nối nhau, đời sau gom thành sáu lễ: nạp thái (ngỏ lời), vấn danh (hỏi tên tuổi), nạp cát (báo quẻ bói tốt), nạp trưng (đưa sính lễ), thỉnh kỳ (xin ngày), thân nghinh (đón dâu). Không bước nào được nhảy cóc. Và chi tiết đáng chú ý: ở phần lớn các bước, lễ vật nhà trai mang sang là chim nhạn.

Bây giờ đọc sáu hào quẻ Tiệm. Cả sáu đều mở bằng "hồng tiệm vu…", chim hồng, tức chim nhạn lớn, tiến dần tới…:

HàoChim hồng đếnLời phán
Sơ lụcbờ nướccon nhỏ gặp nguy, có lời ra tiếng vào, không lỗi
Lục nhịtảng đá lớnăn uống vui vầy, tốt
Cửu tamđất bằngchồng đi không về, vợ có thai không nuôi được, xấu
Lục tứcâycó khi được cành ngang, không lỗi
Cửu ngũgò caovợ ba năm không có thai, rốt cuộc không gì thắng được, tốt
Thượng cửuchữ trong bản kinh lại là "lục", trùng hào ba; Chu Hy theo một thuyết đọc là "quỳ", đường mâylông của nó dùng làm nghi lễ được, tốt

Con chim dùng làm lễ vật trong lễ cưới cũng là con chim dẫn sáu hào của quẻ về nhà chồng. Người soạn lời hào sống trong thế giới mà nghe đến chim nhạn là nghĩ ngay đến cưới hỏi. Nhạn là chim bay theo mùa, theo hàng, có trước có sau, nên được dùng làm biểu tượng cho sự đúng thời và đúng thứ bậc.

Đọc theo hôn nhân, hai hào cửu tam và cửu ngũ nói rõ nhất. Cửu tam là tiến quá đà, rời nước lên đất bằng, và lời hào nói về một gia đình tan: chồng đi không về. Cửu ngũ là ngôi cao, lại gặp chuyện ba năm không con, nhưng lời phán vẫn là "rốt cuộc không gì thắng được, tốt". Một cuộc hôn nhân đi đúng các bước thì những khó khăn sau đó không phá được nó. Còn thượng cửu, lông chim làm vật nghi lễ, là hình ảnh của một đời sống đã thành khuôn phép cho người khác noi theo.

Đại Tượng của Tiệm: "Sơn thượng hữu mộc, Tiệm; quân tử dĩ cư hiền đức thiện tục", trên núi có cây là Tiệm; người quân tử nhân đó giữ đức hiền và làm cho phong tục tốt lên. Cây trên núi lớn chậm nhưng rễ bám đá. Một hào của quẻ này, lục tứ, được phân tích như một ví dụ đọc quẻ trọn vẹn ở bài dùng Kinh Dịch để soi một việc.

Quy Muội: cuộc về nhà chồng lệch chỗ

Quy Muội là sấm (Chấn) trên đầm (Đoài): cô gái trẻ vui mà động theo người đàn ông lớn tuổi. Lời quẻ nặng nhất trong bốn quẻ: "Quy Muội, chinh hung, vô du lợi", tiến tới thì xấu, không có gì lợi.

Muốn hiểu chữ "quy muội", phải biết tục dắng của giới quý tộc thời Chu: khi một cô gái nhà quyền quý về làm vợ chính, em gái hoặc chị em họ của cô có thể theo về làm vợ thứ, gọi là "đệ". Quy Muội, "em gái về nhà chồng", nói về chính địa vị ấy: người theo, người đứng thứ.

Đọc lời hào trong bối cảnh này thì nhiều câu khó hiểu trở nên rõ:

  • Sơ cửu: "Quy muội dĩ đệ, phả năng lý, chinh cát", cô em về làm vợ thứ, như người què mà vẫn bước được, tiến thì tốt. Ở đúng vị trí người theo thì vẫn đi được đường của mình.
  • Cửu tứ: "Quy muội khiên kỳ, trì quy hữu thời", cô em lỡ hẹn, về muộn là vì có lúc của mình. Không theo người khác mà chờ đúng thời.
  • Lục ngũ: "Đế Ất quy muội…", vua Đế Ất nhà Thương gả em gái; áo của người vợ chính không đẹp bằng áo của cô em theo về; trăng gần rằm, tốt. Người ở ngôi cao nhất lại ăn mặc giản dị hơn người theo mình, như trăng gần tròn mà chưa tròn hẳn. Đế Ất gả em gái còn xuất hiện ở hào lục ngũ quẻ Thái, và một số nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng đây là dấu vết một cuộc hôn nhân có thật giữa nhà Thương và nhà Chu.
  • Thượng lục: "Nữ thừa khuông vô thực, sĩ khuê dương vô huyết, vô du lợi", người vợ bưng giỏ không có quả, người chồng cắt dê không ra máu, không có gì lợi. Đây là hình ảnh một nghi lễ cúng của đôi vợ chồng mới mà thành trống rỗng: có hình thức, không có thực chất.

Điều thú vị là Thoán truyện, dù lời quẻ phán xấu, lại mở đầu bằng câu: "Quy Muội, thiên địa chi đại nghĩa dã", Quy Muội là nghĩa lớn của trời đất. Trời đất không giao thì muôn vật không sinh; trai gái lấy nhau là chỗ đầu và chỗ cuối của đời người. Cái xấu của quẻ không nằm ở việc cưới, mà ở chỗ "vị bất đáng", vị trí không xứng: cô gái vui mà tự động trước, các hào âm cưỡi lên hào dương.

Đại Tượng của Quy Muội là một trong những lời dặn sâu nhất về hôn nhân trong cả Kinh Dịch: "Trạch thượng hữu lôi, Quy Muội; quân tử dĩ vĩnh chung tri tệ", trên đầm có sấm là Quy Muội; người quân tử nhân đó nhìn đến lâu dài để biết chỗ hỏng. Một cuộc gắn bó khởi đầu bằng niềm vui bột phát, như đầm gợn lên theo tiếng sấm, cần được nhìn bằng con mắt của mười năm sau.

Sau khi cưới: một lời của quẻ Gia Nhân

Bốn quẻ trên dừng ở chỗ về nhà chồng. Chuyện trong nhà sau đó thuộc về quẻ Gia Nhân (37), gió từ lửa ra. Đại Tượng của nó ngắn mà dùng được ngay: "Quân tử dĩ ngôn hữu vật nhi hành hữu hằng", lời nói có thực chất, việc làm có nếp bền. Hào cửu tam còn một nhận xét rất đời: trong nhà nghiêm khắc quá thì có lúc ăn năn, nhưng vẫn tốt; vợ con cười cợt buông tuồng thì rốt cuộc đáng tiếc. Người soạn lời hào nghiêng về phía giữ nếp hơn là thả lỏng.

Sách cổ nói gì

Hữu thiên địa nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ nhiên hậu hữu phụ tử… Phu phụ chi đạo bất khả dĩ bất cửu dã, cố thụ chi dĩ Hằng. Hằng giả, cửu dã.

Có trời đất rồi mới có muôn vật, có muôn vật rồi mới có trai gái, có trai gái rồi mới có vợ chồng, có vợ chồng rồi mới có cha con… Đạo vợ chồng không thể không lâu dài, nên tiếp bằng quẻ Hằng. Hằng là lâu. — Chu Dịch, Tự Quái truyện

Bình: đây là lời mở đầu phần Tự Quái giải Hạ Kinh, và nó giải thích vì sao nửa sau của Kinh Dịch mở bằng Hàm, Hằng. Trong cách nghĩ của người xưa, mọi quan hệ xã hội, từ cha con đến vua tôi, đều mọc ra từ quan hệ vợ chồng. Vì sao Thượng Kinh mở bằng trời đất còn Hạ Kinh mở bằng vợ chồng được bàn ở bài Thượng Kinh, Hạ Kinh.

Thiên địa cảm nhi vạn vật hoá sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hoà bình.

Trời đất cảm nhau mà muôn vật sinh hoá, thánh nhân cảm lòng người mà thiên hạ hoà bình. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Hàm

Bình: Thoán truyện nâng chuyện trai gái cảm nhau lên thành nguyên lý chung của mọi sự sống. Đọc ngược lại cũng đúng: cái cảm giữa hai người là cùng một thứ với cái làm cho trời đất sinh ra muôn vật, nên không có gì tầm thường.

Đọc cho đúng mức

Bối cảnh lời hào là một xã hội đã qua. Tục dắng, lễ giáo "theo một người đến trọn đời", việc đánh giá người vợ qua chuyện có con hay không đều thuộc về thời Chu. Bài này nêu bối cảnh để đọc cho đúng nghĩa câu chữ, không để lấy làm chuẩn mực cho hôm nay. Những câu mang định kiến giới được dẫn ra để phân tích, không để phán ai.

Các lối giải khác. Phái tượng số giải hào Hàm theo hào biến và hỗ quái, ra những lời giải cụ thể hơn nhưng xa ý tình cảm hơn. Ngay chữ "Hàm" được Thoán truyện giảng là "cảm"; đó là lời giải của tầng Truyện, còn chữ ấy trong kinh văn gốc nghĩa là gì thì giới nghiên cứu chưa thống nhất. Chi tiết "Đế Ất gả em gái cho nhà Chu" là giả thuyết của giới nghiên cứu hiện đại, không phải điều sử liệu ghi rõ. Lối đọc trong bài theo Thoán, Tượng và các nhà chú đời Tống.

Quẻ không trả lời "có hợp nhau không". Gieo ra Quy Muội không có nghĩa hai người không nên ở cạnh nhau; gieo ra Hàm cũng không có nghĩa người kia đang thương mình. Bốn quẻ này chỉ ra chỗ cần nhìn: vội hay chậm, ai đứng ở đâu, cái bền đến từ đâu. Những quyết định lớn về hôn nhân cần được nói thẳng với nhau, với gia đình, khi cần thì với người làm tư vấn có chuyên môn.

Việc nên làm

  • Khi hỏi quẻ về một mối quan hệ, đặt câu hỏi về cách mình nên làm, như "trong ba tháng tới mình nên giữ điều gì với người này", thay vì "người ấy có thương mình không". Cách đặt câu hỏi xem ở bài đặt câu hỏi khi gieo quẻ.
  • Gieo ra Hàm: xem mình đang cảm ở chỗ nào, chân, tâm hay lời nói, và để lòng trống một chút cho người kia.
  • Gieo ra Hằng: đừng đòi lời hứa trọn đời quá sớm; cũng đừng để những va chạm nhỏ thành nếp thường.
  • Gieo ra Tiệm: đi đúng các bước, đừng nhảy cóc qua những lần gặp gỡ, giới thiệu với gia đình.
  • Gieo ra Quy Muội: nhìn chuyện này bằng con mắt của nhiều năm sau, và tự hỏi mình có đang ở đúng vị trí của mình không.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Dịch, quẻ Hàm: lời quẻ, Thoán truyện, Đại Tượng, sáu lời hào, Tiểu Tượng hào thượng lục (trích nguyên văn lời quẻ, Đại Tượng, câu cửu tứ; các hào khác dẫn đại ý).
  • Chu Dịch, quẻ Hằng: lời quẻ, Thoán truyện, Đại Tượng, các hào sơ lục, cửu tam, lục ngũ, thượng lục.
  • Chu Dịch, quẻ Tiệm: lời quẻ, Đại Tượng, sáu lời hào (dẫn đại ý theo bảng).
  • Chu Dịch, quẻ Quy Muội: lời quẻ, Thoán truyện, Đại Tượng, các hào sơ cửu, cửu tứ, lục ngũ, thượng lục; quẻ Thái hào lục ngũ.
  • Chu Dịch, quẻ Gia Nhân: Đại Tượng, hào cửu tam (dẫn đại ý).
  • Hệ Từ hạ: lời bàn câu "đồng đồng vãng lai" của quẻ Hàm (dẫn đại ý).
  • Tự Quái truyện (phần mở Hạ Kinh), Tạp Quái truyện ("Hàm tốc dã, Hằng cửu dã"), Thuyết Quái (tám quẻ ứng tám người trong nhà).
  • Nghi Lễ, thiên Sĩ Hôn Lễ: các bước lễ cưới và việc dùng chim nhạn (dẫn đại ý).
  • Trình Di, Trình thị Dịch truyện: lời bàn bốn quẻ về đạo vợ chồng (dẫn đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Quẻ nào trong Kinh Dịch nói về tình yêu, hôn nhân?

Bốn quẻ nói thẳng nhất là Hàm (cảm nhau), Hằng (bền lâu), Tiệm (cưới đúng lễ từng bước) và Quy Muội (về nhà chồng lệch chỗ). Quẻ Gia Nhân bàn tiếp chuyện trong nhà sau khi cưới.

Gieo được quẻ Hàm có phải tình cảm sẽ thành không?

Không nên hiểu như vậy. Lời quẻ Hàm tốt, nhưng sáu hào cho thấy cảm bằng bản năng vội vàng hay bằng lời nói suông đều không tốt; Hàm nói về cách cảm hơn là kết quả.

Vì sao quẻ Quy Muội bị coi là xấu?

Lời quẻ phán "tiến tới thì xấu", vì cô gái trẻ vui mà tự động trước, các hào đứng không đúng chỗ. Nhưng Thoán truyện vẫn gọi Quy Muội là "nghĩa lớn của trời đất"; cái xấu nằm ở vị trí, không nằm ở việc cưới.

Chim hồng trong quẻ Tiệm có liên quan gì đến đám cưới?

Trong lễ cưới thời Chu theo Nghi Lễ, nhà trai dùng chim nhạn làm lễ vật ở nhiều bước. Sáu hào quẻ Tiệm đều theo bước chim hồng, tức chim nhạn lớn, nên người xưa đọc quẻ này như hình ảnh một cuộc về nhà chồng đúng lễ.

Hàm và Hằng khác nhau thế nào?

Tạp Quái truyện nói Hàm là nhanh, Hằng là lâu. Hàm là hai người trẻ cảm nhau, trai hạ mình trước; Hằng là hai người đã trưởng thành giữ một hướng chung, bền như bốn mùa đổi mà không mất nhịp.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — quẻ Hàm, Hằng, Tiệm, Quy Muội, Gia Nhân, Thái — lời quẻ, lời hào, Thoán truyện, Đại Tượng · Chu Dịch — Tự Quái truyện, Tạp Quái truyện — Hữu thiên địa nhiên hậu hữu vạn vật… cố thụ chi dĩ Hằng; Hàm tốc dã, Hằng cửu dã · Nghi Lễ — thiên Sĩ Hôn Lễ — các bước lễ cưới, dùng chim nhạn · Trình Di — Trình thị Dịch truyện — lời bàn bốn quẻ nói đạo vợ chồng

Những quẻ được coi là tốt nhất trong Kinh Dịch và chỗ "thịnh quá thì suy"Quẻ tốt nhất Kinh Dịch là quẻ nào? Thái, Đại Hữu, Khiêm được nêu nhiều nhất, nhưng hào trên cùng của quẻ thịnh thường đã chớm suy…
Quẻ Kinh Dịch về tiền của: Tổn, Ích, Đại Súc, Tiểu Súc và cách đọc không hứa hẹnQuẻ dịch về tài lộc: Tổn là bớt dưới thêm trên, Ích là bớt trên thêm dưới, Tiểu Súc và Đại Súc là chứa giữ. Bốn quẻ dạy cách giữ,…
Hỏi chuyện học hành, thi cử bằng Kinh Dịch: Mông, Lâm, Quan và ĐỉnhQuẻ dịch về học hành: Mông là người học tìm thầy, Lâm và Quan là cặp dạy và nhìn, Đỉnh là nấu chín cái đã học. Đọc lời hào dành c…
Sáu mươi tư quẻ Kinh Dịch: bảng tra tên, thứ tự và ý chínhBảng 64 quẻ Kinh Dịch theo thứ tự Văn Vương: tên Hán Việt, quẻ trên, quẻ dưới, ý một dòng, lưới tra nhanh 8×8 và cách tự soát một…
Thái và Bĩ: "bĩ cực thái lai" đọc từ đúng hai quẻ trong Kinh DịchBĩ cực thái lai có gốc ở hai quẻ Thái, Bĩ: vì sao đất trên trời lại là thông, trời trên đất là bế tắc, và câu "khuynh Bĩ, tiên Bĩ…
Hỏi chuyện đi xa, đổi chỗ ở bằng Kinh Dịch: Lữ, Hoán, Tiệm và KiểnQuẻ dịch về đi xa: Lữ là người ở đất khách, Hoán là rời chỗ cũ, Tiệm là tiến từng chặng, Kiển là biết dừng. Bảng hào nói về chỗ t…