Sáu mươi tư quẻ Kinh Dịch: bảng tra tên, thứ tự và ý chính
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 15 phút đọc
Kinh Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ là hai quẻ đơn chồng lên nhau, tám nhân tám thành sáu mươi tư. Thứ tự thông dụng là thứ tự Văn Vương, mở bằng Càn, Khôn, khép bằng Ký Tế, Vị Tế, chia Thượng Kinh 30 quẻ và Hạ Kinh 34 quẻ. Dưới đây là lưới 8×8 để tra quẻ vừa gieo và bảng đủ 64 quẻ kèm ý chính.
Mỗi tên quẻ trong hai bảng dẫn sang trang riêng của quẻ đó, có hình quẻ, lời quẻ, lời hào và các quẻ liên quan. Bảng được lập lại từ tám quẻ đơn rồi đối chiếu hai lần theo hai cách độc lập; phần cuối bài chỉ cách bạn tự soát bất kỳ bảng quẻ nào mình gặp.
Đọc tên một quẻ: ba chữ đầu là địa chỉ, chữ sau là tên
Tên đầy đủ của một quẻ thường có ba hoặc bốn chữ, ví dụ Thủy Lôi Truân, Địa Sơn Khiêm, Lôi Trạch Quy Muội. Cách đọc cố định:
- Chữ thứ nhất là tượng của quẻ trên (ngoại quái).
- Chữ thứ hai là tượng của quẻ dưới (nội quái).
- Phần còn lại là tên quẻ.
Tám tượng dùng trong tên: Thiên (Càn), Trạch (Đoài), Hỏa (Ly), Lôi (Chấn), Phong (Tốn), Thủy (Khảm), Sơn (Cấn), Địa (Khôn). Tám quẻ do một quẻ đơn chồng lên chính nó thì gọi là Thuần: Thuần Càn, Thuần Khôn, Thuần Khảm… Sách cũ của ta còn gọi là "Bát Thuần Càn", hoặc riêng quẻ Khảm là "Tập Khảm", theo chữ đầu lời quẻ.
Chỗ người mới hay vấp: tên đọc từ trên xuống, nhưng hào đếm từ dưới lên. Thủy Lôi Truân có Khảm (nước) ở trên, Chấn (sấm) ở dưới, nên hào 1, 2, 3 là ba vạch của Chấn, hào 4, 5, 6 là ba vạch của Khảm. Vẽ quẻ thì vạch đầu tiên đặt ở đáy. Nhầm chiều này thì Truân thành Giải (Lôi Thủy Giải, quẻ 40), một quẻ gian nan buổi đầu biến thành một quẻ cởi gỡ, nghĩa gần như ngược lại.
Nếu chưa thuộc tám quẻ đơn, hãy đọc bài tám quẻ đơn trước; mọi thứ trong bài này dựng trên tám hình ấy.
Lưới tra nhanh: tìm quẻ khi vừa gieo xong
Gieo xong sáu hào, bạn có ba vạch dưới và ba vạch trên. Tra như sau:
- Ba hào dưới (hào 1, 2, 3) ra quẻ đơn nào, tìm ở cột đầu.
- Ba hào trên (hào 4, 5, 6) ra quẻ đơn nào, tìm ở hàng đầu.
- Ô giao nhau là số thứ tự và tên quẻ.
| Dưới ↓ / Trên → | Càn (Thiên) | Đoài (Trạch) | Ly (Hỏa) | Chấn (Lôi) | Tốn (Phong) | Khảm (Thủy) | Cấn (Sơn) | Khôn (Địa) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Càn (Thiên) | 1 Càn | 43 Quải | 14 Đại Hữu | 34 Đại Tráng | 9 Tiểu Súc | 5 Nhu | 26 Đại Súc | 11 Thái |
| Đoài (Trạch) | 10 Lý | 58 Đoài | 38 Khuê | 54 Quy Muội | 61 Trung Phu | 60 Tiết | 41 Tổn | 19 Lâm |
| Ly (Hỏa) | 13 Đồng Nhân | 49 Cách | 30 Ly | 55 Phong | 37 Gia Nhân | 63 Ký Tế | 22 Bí | 36 Minh Di |
| Chấn (Lôi) | 25 Vô Vọng | 17 Tùy | 21 Phệ Hạp | 51 Chấn | 42 Ích | 3 Truân | 27 Di | 24 Phục |
| Tốn (Phong) | 44 Cấu | 28 Đại Quá | 50 Đỉnh | 32 Hằng | 57 Tốn | 48 Tỉnh | 18 Cổ | 46 Thăng |
| Khảm (Thủy) | 6 Tụng | 47 Khốn | 64 Vị Tế | 40 Giải | 59 Hoán | 29 Khảm | 4 Mông | 7 Sư |
| Cấn (Sơn) | 33 Độn | 31 Hàm | 56 Lữ | 62 Tiểu Quá | 53 Tiệm | 39 Kiển | 52 Cấn | 15 Khiêm |
| Khôn (Địa) | 12 Bĩ | 45 Tụy | 35 Tấn | 16 Dự | 20 Quan | 8 Tỷ | 23 Bác | 2 Khôn |
Nhìn đường chéo từ trên trái xuống dưới phải: tám quẻ Thuần nằm trọn trên đó. Nhìn hai ô đối xứng qua đường chéo: đó là hai quẻ có cùng hai quẻ đơn nhưng đổi chỗ trên dưới, như Thái (11) và Bĩ (12), Ký Tế (63) và Vị Tế (64), Truân (3) và Giải (40). Đổi chỗ trên dưới thường đổi hẳn tình thế, vì Dịch coi trọng việc khí nào đi lên, khí nào đi xuống: đất ở trên trời ở dưới là Thái, hai khí gặp nhau; trời ở trên đất ở dưới là Bĩ, mỗi bên một ngả.
Gieo ra hào động thì còn quẻ biến. Cách tìm hào động và đọc quẻ biến ở bài gieo quẻ bằng ba đồng xu; quẻ có nhiều hào động đọc thế nào ở bài quẻ nhiều hào động.
Bảng 64 quẻ theo thứ tự Văn Vương
Cột "ý chính" tóm lời quẻ và lời Đại Tượng của từng quẻ trong một dòng. Đây là cái chìa để nhớ quẻ, không phải lời đoán: một quẻ có sáu hào, mỗi hào một tình thế, và hào động mới là chỗ quẻ nói với việc của bạn.
Thượng Kinh: quẻ 1 đến 30
| Số | Quẻ | Tên đầy đủ | Trên | Dưới | Ý chính |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Càn | Thuần Càn | Càn | Càn | Trời vận hành không nghỉ; sức mạnh khởi đầu, người quân tử tự cường |
| 2 | Khôn | Thuần Khôn | Khôn | Khôn | Đất thuận theo và chở muôn vật; đi sau thì được, bền như ngựa cái |
| 3 | Truân | Thủy Lôi Truân | Khảm | Chấn | Gian nan buổi đầu, mầm đội đất mà lên; nên dựng người giúp, chưa nên đi xa |
| 4 | Mông | Sơn Thủy Mông | Cấn | Khảm | Non dại cần được dạy; người học phải tự tìm thầy, hỏi một lần cho thành |
| 5 | Nhu | Thủy Thiên Nhu | Khảm | Càn | Chờ có lòng tin; mây đã lên trời mà mưa chưa xuống |
| 6 | Tụng | Thiên Thủy Tụng | Càn | Khảm | Tranh tụng; dừng giữa chừng thì tốt, theo đến cùng thì xấu |
| 7 | Sư | Địa Thủy Sư | Khôn | Khảm | Quân đội, đám đông; cần người cầm đầu chính đáng, từng trải |
| 8 | Tỷ | Thủy Địa Tỷ | Khảm | Khôn | Gần gũi, quy tụ về một mối; ai đến muộn thì lỡ |
| 9 | Tiểu Súc | Phong Thiên Tiểu Súc | Tốn | Càn | Cái nhỏ kìm giữ cái lớn; mây dày mà chưa mưa |
| 10 | Lý | Thiên Trạch Lý | Càn | Đoài | Giẫm đuôi cọp mà cọp không cắn; đi đứng theo lễ |
| 11 | Thái | Địa Thiên Thái | Khôn | Càn | Trời đất giao nhau, trên dưới thông; cái nhỏ đi, cái lớn đến |
| 12 | Bĩ | Thiên Địa Bĩ | Càn | Khôn | Trời đất không giao, trên dưới bế tắc; người quân tử thu mình giữ đức |
| 13 | Đồng Nhân | Thiên Hỏa Đồng Nhân | Càn | Ly | Cùng người ở chốn đồng nội; hợp quần rộng, không bè phái |
| 14 | Đại Hữu | Hỏa Thiên Đại Hữu | Ly | Càn | Có lớn; lửa trên trời soi khắp, nên ngăn điều ác, nêu điều thiện |
| 15 | Khiêm | Địa Sơn Khiêm | Khôn | Cấn | Núi ở dưới đất; có mà không tự cho là có, sáu hào không hào nào xấu |
| 16 | Dự | Lôi Địa Dự | Chấn | Khôn | Vui và sẵn sàng; sấm ra khỏi đất, lợi dựng người, động quân |
| 17 | Tùy | Trạch Lôi Tùy | Đoài | Chấn | Theo; theo thời, theo người phải chính đáng |
| 18 | Cổ | Sơn Phong Cổ | Cấn | Tốn | Đồ để lâu sinh sâu; sửa việc hỏng của đời trước |
| 19 | Lâm | Địa Trạch Lâm | Khôn | Đoài | Đến gần, trông coi; dương đang lớn nhưng đến tháng tám có điều xấu |
| 20 | Quan | Phong Địa Quan | Tốn | Khôn | Xem và được người xem; lòng thành nghiêm như lúc rửa tay chưa dâng lễ |
| 21 | Phệ Hạp | Hỏa Lôi Phệ Hạp | Ly | Chấn | Có vật chặn giữa miệng phải cắn đứt; việc xử án, phân minh |
| 22 | Bí | Sơn Hỏa Bí | Cấn | Ly | Trang sức, văn vẻ; đẹp bên ngoài chỉ lợi việc nhỏ |
| 23 | Bác | Sơn Địa Bác | Cấn | Khôn | Bóc mòn, năm âm đẩy một dương; không nên tiến |
| 24 | Phục | Địa Lôi Phục | Khôn | Chấn | Trở lại, một dương sinh dưới cùng; bảy ngày thì trở lại |
| 25 | Vô Vọng | Thiên Lôi Vô Vọng | Càn | Chấn | Không càn bậy, đúng như thật; không chính thì có lỗi |
| 26 | Đại Súc | Sơn Thiên Đại Súc | Cấn | Càn | Chứa lớn, giữ sức lại mà bồi đức; không ăn ở nhà thì tốt |
| 27 | Di | Sơn Lôi Di | Cấn | Chấn | Nuôi; xem mình nuôi người và tự nuôi thế nào, cẩn lời ăn tiếng nói |
| 28 | Đại Quá | Trạch Phong Đại Quá | Đoài | Tốn | Cái lớn quá mức, cột cái cong oằn; thời của việc phi thường |
| 29 | Khảm | Thuần Khảm | Khảm | Khảm | Hiểm chồng hiểm; giữ lòng tin như nước chảy mãi không mất lối |
| 30 | Ly | Thuần Ly | Ly | Ly | Bám vào mà sáng; lửa phải nương vật mới cháy |
Hạ Kinh: quẻ 31 đến 64
| Số | Quẻ | Tên đầy đủ | Trên | Dưới | Ý chính |
|---|---|---|---|---|---|
| 31 | Hàm | Trạch Sơn Hàm | Đoài | Cấn | Cảm ứng; trai hạ mình trước gái, lấy vợ thì tốt |
| 32 | Hằng | Lôi Phong Hằng | Chấn | Tốn | Bền lâu; đạo vợ chồng cần cái không đổi |
| 33 | Độn | Thiên Sơn Độn | Càn | Cấn | Lui đúng lúc; giữ khoảng cách mà không ghét bỏ |
| 34 | Đại Tráng | Lôi Thiên Đại Tráng | Chấn | Càn | Mạnh lớn; càng mạnh càng phải chính, dê húc rào mắc sừng |
| 35 | Tấn | Hỏa Địa Tấn | Ly | Khôn | Tiến lên như mặt trời ló khỏi mặt đất; được trọng dụng |
| 36 | Minh Di | Địa Hỏa Minh Di | Khôn | Ly | Ánh sáng bị thương, mặt trời lặn vào đất; giữ sáng ở trong |
| 37 | Gia Nhân | Phong Hỏa Gia Nhân | Tốn | Ly | Người trong nhà; lời có thực, việc làm có thường |
| 38 | Khuê | Hỏa Trạch Khuê | Ly | Đoài | Trái nhau, chia lìa; việc nhỏ thì tốt, tìm chỗ giống trong chỗ khác |
| 39 | Kiển | Thủy Sơn Kiển | Khảm | Cấn | Gian nan, trước núi sau nước; quay lại sửa mình |
| 40 | Giải | Lôi Thủy Giải | Chấn | Khảm | Cởi gỡ; nạn đã qua thì mau ổn định |
| 41 | Tổn | Sơn Trạch Tổn | Cấn | Đoài | Bớt dưới thêm trên; bớt mà có lòng thành thì tốt |
| 42 | Ích | Phong Lôi Ích | Tốn | Chấn | Bớt trên thêm dưới; thấy điều thiện thì theo, có lỗi thì sửa |
| 43 | Quải | Trạch Thiên Quải | Đoài | Càn | Quyết, trừ kẻ tiểu nhân; nói công khai, không cậy võ lực |
| 44 | Cấu | Thiên Phong Cấu | Càn | Tốn | Gặp gỡ bất ngờ, một âm sinh dưới; chớ vội gắn bó |
| 45 | Tụy | Trạch Địa Tụy | Đoài | Khôn | Tụ họp; cần người lớn đứng ra và lễ lớn |
| 46 | Thăng | Địa Phong Thăng | Khôn | Tốn | Lên dần như cây mọc trong đất; tích nhỏ thành cao lớn |
| 47 | Khốn | Trạch Thủy Khốn | Đoài | Khảm | Cùng quẫn; nói không ai tin, giữ được chí thì vẫn thông |
| 48 | Tỉnh | Thủy Phong Tỉnh | Khảm | Tốn | Cái giếng; làng đổi mà giếng không đổi, múc mãi không cạn |
| 49 | Cách | Trạch Hỏa Cách | Đoài | Ly | Đổi lột như thú thay lông theo mùa; đúng thời mới được tin |
| 50 | Đỉnh | Hỏa Phong Đỉnh | Ly | Tốn | Cái vạc; nấu chín dâng lễ, nuôi người hiền, dựng cái mới |
| 51 | Chấn | Thuần Chấn | Chấn | Chấn | Sấm động; sợ trước rồi cười sau, không đánh rơi muỗng rượu |
| 52 | Cấn | Thuần Cấn | Cấn | Cấn | Dừng; dừng đúng chỗ, không nghĩ ra ngoài vị trí mình |
| 53 | Tiệm | Phong Sơn Tiệm | Tốn | Cấn | Tiến dần như chim hồng, như con gái về nhà chồng đủ lễ |
| 54 | Quy Muội | Lôi Trạch Quy Muội | Chấn | Đoài | Em gái về nhà chồng; tiến thì xấu, nên nghĩ tới đường dài |
| 55 | Phong | Lôi Hỏa Phong | Chấn | Ly | Thịnh lớn; mặt trời đứng bóng rồi sẽ xế |
| 56 | Lữ | Hỏa Sơn Lữ | Ly | Cấn | Người đi xa ở trọ; việc nhỏ thì thông, giữ chính |
| 57 | Tốn | Thuần Tốn | Tốn | Tốn | Thuận và thấm vào như gió; lệnh truyền nhiều lần |
| 58 | Đoài | Thuần Đoài | Đoài | Đoài | Vui; vui cùng bạn bè giảng tập |
| 59 | Hoán | Phong Thủy Hoán | Tốn | Khảm | Tan ra, gió thổi trên nước; gom lòng người lại |
| 60 | Tiết | Thủy Trạch Tiết | Khảm | Đoài | Tiết chế, có chừng mực; tiết chế khắc khổ quá thì không bền |
| 61 | Trung Phu | Phong Trạch Trung Phu | Tốn | Đoài | Lòng tin ở trong; tin đến cả heo, cá |
| 62 | Tiểu Quá | Lôi Sơn Tiểu Quá | Chấn | Cấn | Cái nhỏ hơi quá; chim bay để lại tiếng, xuống thấp thì hợp |
| 63 | Ký Tế | Thủy Hỏa Ký Tế | Khảm | Ly | Đã xong, sáu hào đúng chỗ; đầu tốt, cuối loạn |
| 64 | Vị Tế | Hỏa Thủy Vị Tế | Ly | Khảm | Chưa xong, sáu hào sai chỗ; cáo con sắp qua sông thì ướt đuôi |
Thứ tự Văn Vương đi theo cặp: luật để tự soát mọi bảng quẻ
Nhìn kỹ hai bảng trên, bạn sẽ thấy 64 quẻ không xếp lộn xộn mà đi thành 32 cặp: quẻ lẻ và quẻ chẵn liền sau luôn dính với nhau theo một trong hai cách.
- Lật ngược (sách cũ gọi là "phúc", đời sau gọi là quẻ tổng hay quẻ đảo): xoay quẻ 180 độ, hào 6 xuống làm hào 1. Truân lật ngược thành Mông, Nhu thành Tụng, Tổn thành Ích, Hàm thành Hằng. 28 cặp đi theo cách này.
- Đổi hết hào ("biến", đời sau gọi là quẻ thác): dương thành âm, âm thành dương. Chỉ dùng cho tám quẻ mà lật ngược vẫn y nguyên: Càn và Khôn, Di và Đại Quá, Khảm và Ly, Trung Phu và Tiểu Quá. 4 cặp đi theo cách này.
Khổng Dĩnh Đạt đời Đường đã tóm luật ấy trong tám chữ: "nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến", hai quẻ một đôi, không lật thì đổi. Không có ngoại lệ nào.
Luật này là công cụ soát lỗi tốt nhất bạn có. Gặp một bảng quẻ trên mạng hay trong sách in mờ, chỉ cần lấy quẻ lẻ, lật ngược nó, xem có ra đúng quẻ chẵn liền sau không. Lệch một cặp là bảng có chỗ in sai. Chính bảng trong bài này đã được kiểm theo cách đó cho đủ 32 cặp, rồi đối chiếu thêm một lần với lưới 8×8 lập độc lập từ tám quẻ đơn.
Một hệ quả thú vị: vì quẻ lật ngược đưa hào 5 xuống thành hào 2 và hào 4 xuống thành hào 3, nên trong một cặp có khi cùng một câu hào xuất hiện ở hai vị trí "đối xứng". Lục ngũ quẻ Tổn và lục nhị quẻ Ích cùng có câu "hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi" (có người cho thêm mười con rùa quý, không chối được). Cửu tứ quẻ Quải và cửu tam quẻ Cấu cùng có câu "đồn vô phu, kỳ hành tư thư" (mông không còn da, bước đi chật vật). Người soạn lời hào rõ ràng đã nhìn hai quẻ một đôi như một hình xoay vòng.
Vì sao cặp này đứng trước cặp kia, tức thứ tự giữa các cặp, thì Tự Quái truyện giải bằng một chuỗi lý lẽ nối tiếp: có trời đất rồi muôn vật sinh, muôn vật mới sinh thì gian nan nên tiếp bằng Truân, mới sinh thì non dại nên tiếp bằng Mông… Chuỗi ấy và lý do Thượng Kinh dừng ở quẻ 30 được bàn riêng ở bài Thượng Kinh, Hạ Kinh.
Những chỗ bảng quẻ hay in sai
Trong lúc đối chiếu, các lỗi dưới đây gặp nhiều nhất. Biết trước thì đọc bảng nào cũng đỡ bị dắt.
| Lỗi | Ví dụ | Cách nhận ra |
|---|---|---|
| Đảo quẻ trên, quẻ dưới | ghi Truân là "Khảm dưới, Chấn trên" | đối chiếu với tên đầy đủ: chữ đầu luôn là quẻ trên |
| Vẽ hào từ trên xuống | vẽ Phục với vạch liền ở đỉnh, thành Bác | Phục là "một dương sinh dưới cùng"; tên nói rõ chỗ của hào |
| Nhầm chữ gần âm | Tỷ (8), Bĩ (12), Bí (22); Lý (10) và Ly (30); Tùy (17) và Tụy (45) | xem số thứ tự đi kèm, đừng chỉ nhìn tên |
| Nhầm cặp lớn nhỏ | Đại Súc (26) với Tiểu Súc (9); Đại Quá (28) với Tiểu Quá (62) | "đại" chỉ dương, "tiểu" chỉ âm: Đại Quá có bốn hào dương ở giữa, Tiểu Quá có bốn hào âm bọc ngoài |
| Lẫn thứ tự khác | bảng xếp theo hệ nhị phân hay theo tám cung, nhưng ghi là thứ tự Văn Vương | thử luật "không lật thì đổi" ở mấy cặp đầu |
Dòng cuối đáng nói thêm. Ngoài thứ tự Văn Vương còn có thứ tự "tiên thiên" (xếp từ Càn đến Khôn như đếm theo hệ nhị phân, gắn với Thiệu Ung đời Tống, chính là bảng Leibniz từng thấy) và thứ tự bát cung dùng trong Lục Hào, xếp 64 quẻ thành tám nhà, mỗi nhà tám quẻ. Ba thứ tự phục vụ ba việc khác nhau; bảng nào cũng đúng trong hệ của nó, chỉ sai khi bị ghi nhầm tên hệ. Bát cung xem ở bài bát cung quái.
Trang của từng quẻ có những gì
Mỗi trang quẻ trên aihuyenhoc.com gồm hai phần. Phần máy tính: hình quẻ, quẻ đơn trên và dưới, quẻ hỗ (lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ dưới, hào 3, 4, 5 làm quẻ trên, cho thấy cái ẩn bên trong), quẻ thác (đổi hết hào), quẻ tổng (lật ngược), và quẻ thuộc cung nào trong tám cung. Phần viết tay: lời quẻ, lời hào nguyên văn kèm dịch nghĩa, Đại Tượng, và lời bình về cách hiểu hôm nay.
Ba loại quẻ liên quan ấy không phải trang trí. Quẻ hỗ được Mai Hoa dùng để xem "quá trình" của việc, xem ở bài hỗ quái, biến quái. Quẻ tổng chính là quẻ đứng cặp với nó trong thứ tự Văn Vương, nên đọc một quẻ mà không liếc sang quẻ cặp là bỏ mất một nửa câu chuyện: Tổn và Ích, Thái và Bĩ, Ký Tế và Vị Tế nói cho nhau nghe.
Ngoài bảng tra, chuyên mục 64 quẻ còn có mấy bài đọc theo chủ đề: những quẻ được coi là tốt nhất, quẻ về tình cảm, quẻ cho người khởi sự, quẻ về tiền của.
Sách cổ nói gì
Bát quái thành liệt, tượng tại kỳ trung hĩ; nhân nhi trùng chi, hào tại kỳ trung hĩ.
Tám quẻ bày thành hàng, tượng đã ở trong đó; nhân đó mà chồng lên nhau, hào đã ở trong đó. — Chu Dịch, Hệ Từ hạ
Bình: câu này là lý do lưới 8×8 dùng được. Hệ Từ không coi 64 quẻ là 64 thứ riêng rẽ cần học thuộc, mà là tám tượng gặp nhau. Biết tám tượng và biết quẻ nào nằm trên, quẻ nào nằm dưới, bạn đã đọc được nửa ý của bất kỳ quẻ nào trước khi mở lời quẻ. Đại Tượng của cả 64 quẻ đều mở bằng tượng của hai quẻ đơn: "Địa trung hữu sơn, Khiêm", trong đất có núi là quẻ Khiêm; "Sơn hạ hữu trạch, Tổn", dưới núi có đầm là quẻ Tổn.
Nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến.
Hai quẻ một đôi, không lật ngược thì đổi hết hào. — Khổng Dĩnh Đạt, Chu Dịch Chính Nghĩa, phần Tự Quái
Bình: Khổng Dĩnh Đạt nói câu này để chỉ ra rằng thứ tự Văn Vương có một trật tự hình học bên dưới chuỗi lý lẽ của Tự Quái. Người đọc hôm nay có thể dùng nó như một cách kiểm tra, đúng như bài đã làm.
Chu Hy, để học trò nhớ thứ tự, có soạn một bài ca bảy chữ in đầu Chu Dịch Bản Nghĩa, mở bằng các tên Càn, Khôn, Truân, Mông, Nhu, Tụng, Sư. Người học xưa thuộc thứ tự quẻ bằng bài ca ấy, như trẻ con thuộc bảng cửu chương.
Đọc cho đúng mức
Ý một dòng không phải lời giải. Cột ý chính tóm lời quẻ và Đại Tượng, tức cái nhìn chung về cả quẻ. Khi hỏi việc, phần nói thẳng với tình huống của bạn thường là lời hào động, và hai người gieo cùng một quẻ mà khác hào động thì có thể nhận hai lời gần như trái nhau. Quẻ Khiêm tốt từ đầu đến cuối; quẻ Thái thì hào trên cùng đã báo tường thành đổ xuống hào. Đừng đọc tên quẻ rồi dừng.
Tên quẻ có dị bản. Bản Chu Dịch chép trên lụa tìm được ở Mã Vương Đôi xếp 64 quẻ theo một thứ tự khác hẳn, nhóm theo quẻ trên, và viết một số tên quẻ bằng chữ khác với bản thông hành. Thứ tự Văn Vương là thứ tự của bản đã được Nho gia đời Hán chuẩn hoá, không phải thứ tự duy nhất từng có.
Lời dịch tên quẻ khác nhau giữa các sách. "Nhu" có người dịch là chờ, có người là nuôi; "Tùy" là theo; "Cổ" là sửa việc hỏng hay là sâu mọt. Bảng này chọn cách dịch bám lời quẻ và Đại Tượng; bản dịch bạn đang đọc có thể chọn khác mà vẫn có lý.
Không có quẻ nào là "số phận". Kinh Dịch là sách về tình thế và cách xử sự trong tình thế. Một quẻ được gọi là xấu nói về một thời khó, và lời hào luôn chỉ ra người ở thời khó nên làm gì.
Việc nên làm
- Thuộc tám quẻ đơn và tám tượng trước, rồi tập đọc tên đầy đủ của quẻ thành hình: nghe "Hỏa Địa Tấn" là thấy ngay mặt trời trên mặt đất.
- Khi tra quẻ, luôn ghi cả số thứ tự cạnh tên, để tránh nhầm Tỷ, Bĩ, Bí hay Lý, Ly.
- Đọc mỗi quẻ cùng quẻ đứng cặp với nó. Hai quẻ một đôi thường là hai mặt của cùng một chuyện.
- Gặp bảng quẻ lạ, thử luật "không lật thì đổi" với ba bốn cặp bất kỳ trước khi tin.
- Muốn học kỹ lời hào, đọc trước bài hào vị để biết vì sao cùng một quẻ mà hào này tốt, hào kia xấu.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch, phần kinh văn: tên quẻ, lời quẻ của 64 quẻ, Đại Tượng (bản thông hành).
- Hệ Từ truyện hạ: câu "bát quái thành liệt… nhân nhi trùng chi" (trích nguyên văn).
- Tự Quái truyện (dẫn đại ý chuỗi mở đầu Truân, Mông).
- Khổng Dĩnh Đạt, Chu Dịch Chính Nghĩa, lời bàn ở Tự Quái: "nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến" (trích nguyên văn).
- Chu Hy, Chu Dịch Bản Nghĩa: bài ca thứ tự tên quẻ Thượng, Hạ Kinh (dẫn đại ý).
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Kinh Dịch có đúng 64 quẻ?
Vì quẻ kép là hai quẻ đơn chồng lên nhau, mà quẻ đơn có tám, nên có tám nhân tám bằng 64 cách chồng. Tính theo vạch cũng ra như vậy: sáu vạch, mỗi vạch liền hoặc đứt, có 64 tổ hợp.
Thứ tự Văn Vương là gì?
Là thứ tự 64 quẻ trong bản Kinh Dịch thông hành, từ Càn đến Vị Tế. Gọi theo tên Văn Vương là theo truyền thống cho rằng ông chồng tám quẻ thành sáu mươi tư; điều văn bản cho thấy rõ hơn là thứ tự này đã cố định trong bản Kinh được chuẩn hoá đời Hán.
Tên quẻ như "Thủy Lôi Truân" đọc thế nào?
Chữ đầu là tượng quẻ trên, chữ thứ hai là tượng quẻ dưới, phần sau là tên quẻ. Thủy Lôi Truân là quẻ Truân, nước ở trên, sấm ở dưới.
Quẻ đứng cặp với một quẻ là quẻ nào?
Trong thứ tự Văn Vương, quẻ số lẻ đứng cặp với quẻ chẵn liền sau. Phần lớn cặp là hai quẻ lật ngược của nhau; riêng tám quẻ lật ngược vẫn y nguyên thì cặp với quẻ đổi hết hào.
Thượng Kinh và Hạ Kinh có bao nhiêu quẻ?
Thượng Kinh có 30 quẻ, từ Càn đến Ly; Hạ Kinh có 34 quẻ, từ Hàm đến Vị Tế. Nếu gộp mỗi cặp lật ngược thành một hình thì mỗi phần đều có 18 hình.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — phần kinh văn — tên quẻ, lời quẻ của 64 quẻ theo bản thông hành · Chu Dịch — Hệ Từ truyện hạ — Bát quái thành liệt, tượng tại kỳ trung hĩ; nhân nhi trùng chi, hào tại kỳ trung hĩ · Chu Dịch — Tự Quái truyện, Tạp Quái truyện · Chu Dịch Chính Nghĩa — Khổng Dĩnh Đạt — lời bàn ở Tự Quái: nhị nhị tương ngẫu, phi phúc tức biến · Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy — bài ca Thượng hạ kinh quái danh thứ tự