Tầng 120 phân kim và 72 xuyên sơn: hai tầng ít người dùng trên la kinh, xếp thế nào và vì sao mộ phải đặt lệch
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Tầng 120 phân kim chia mỗi sơn trên la kinh làm năm ô, mỗi ô ba độ, ghi một can chi; tầng 72 xuyên sơn chia mỗi sơn làm ba ô năm độ. Phái Tam Hợp chỉ dùng các ô mang can Bính, Đinh, Canh, Tân; ô chính giữa mỗi sơn mang can Mậu, Kỷ, bị coi là không vong. Vì vậy hướng mộ theo phép này luôn đặt lệch khỏi chính giữa sơn vài độ.
Hai tầng này nằm phía ngoài vòng 24 sơn, chữ nhỏ li ti, và phần lớn người mua la kinh không bao giờ dùng tới. Bài các tầng la kinh đã liệt kê chúng trong bảng tổng; bài này mở riêng hai tầng ra: chúng được xếp theo quy tắc nào, quy tắc chọn ô dùng được dựa trên lý lẽ gì, và từ đó hiểu một câu hay nghe ở nghĩa trang: "đặt quan tài lệch một chút cho đúng phân kim". Bảng trong bài do máy dựng theo quy tắc xếp hoa giáp, đã đối chiếu với tài liệu giảng la kinh hiện lưu hành.
Tầng 72 xuyên sơn: sáu mươi hoa giáp cộng mười hai ô trống
Vòng 360 độ chia làm 72 ô, mỗi ô 5 độ, mỗi sơn ba ô. Sáu mươi hoa giáp được xếp vào theo chi: mỗi chi có năm can chi (ví dụ chi Tý có Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý). Năm ô ấy trải từ ô cuối của sơn can (hoặc duy) đứng trước, qua ba ô của sơn chi, sang ô đầu của sơn can đứng sau. Ô giữa của mỗi sơn can, duy (tám can Giáp Ất Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quý và bốn duy Càn Khôn Cấn Tốn) để trống. Tổng: 60 ô có chữ, 12 ô trống, đủ 72.
Lấy quanh chính Bắc làm ví dụ:
| Sơn | Ô 1 | Ô 2 (giữa) | Ô 3 |
|---|---|---|---|
| Nhâm (337,5 – 352,5) | Quý Hợi | trống | Giáp Tý |
| Tý (352,5 – 7,5) | Bính Tý | Mậu Tý | Canh Tý |
| Quý (7,5 – 22,5) | Nhâm Tý | trống | Ất Sửu |
| Sửu (22,5 – 37,5) | Đinh Sửu | Kỷ Sửu | Tân Sửu |
Hoa giáp bắt đầu bằng Giáp Tý ở ô cuối sơn Nhâm, đúng câu "khởi Giáp Tý ở Nhâm" của các sách giải la kinh (có sách ghi khởi ở cuối Hợi; các bản không hoàn toàn thống nhất ở điểm khởi và ở độ rộng ô trống).
Dùng để làm gì. Tên "xuyên sơn" là xuyên qua núi: phái Tam Hợp dùng tầng này để xét đoạn long mạch đi vào huyệt, tức dải núi ngay sau lưng huyệt đi tới từ phương nào, ứng ô can chi nào. Các tài liệu giảng, đại ý, chia năm "tuần" theo can đầu: ô Bính và Canh là khí vượng tướng, dùng được; ô Giáp, Nhâm là cô hư, ô Mậu là sai lệch, không dùng; ô trống là không vong. Có sách gọi ô giữa của sơn chi (như Mậu Tý) là "hỏa khanh", hố lửa, cũng tránh.
Tầng 120 phân kim: mỗi sơn năm ô, ô chính giữa không dùng
Vòng 120 phân kim chia mỗi sơn 15 độ thành năm ô 3 độ. Quy tắc xếp, theo các tài liệu giảng la kinh:
- Sơn chi mang năm can chi của chính chi ấy: sơn Tý có Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý; sơn Sửu có Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quý Sửu.
- Sơn can, duy lặp lại năm phân kim của sơn chi đứng ngay trước nó theo chiều kim đồng hồ: sơn Quý lặp sơn Tý, sơn Cấn lặp sơn Sửu, sơn Nhâm lặp sơn Hợi.
- Sáu mươi hoa giáp vì thế xuất hiện hai lần, đủ 120 ô.
Trong năm ô của mỗi sơn, can đứng đầu đi theo một thứ tự cố định: Giáp (hoặc Ất), Bính (Đinh), Mậu (Kỷ), Canh (Tân), Nhâm (Quý). Tức là ô thứ hai và ô thứ tư luôn là Bính, Đinh, Canh, Tân; ô chính giữa luôn là Mậu hoặc Kỷ.
Vì sao chỉ dùng Bính, Đinh, Canh, Tân: cô hư vượng tướng
Phái Tam Hợp phân năm loại can trong phân kim bằng một khẩu quyết, đại ý: Giáp Nhâm là dương cô, Ất Quý là âm hư, Mậu Kỷ là quy giáp không vong; Bính Đinh, Canh Tân là vượng tướng. Lý lẽ dựa vào nạp giáp, phép gắn can vào tám quẻ có từ đời Hán (bài Kinh Phòng):
| Can | Quẻ nạp | Hình quẻ | Lời giải của khẩu quyết | Dùng? |
|---|---|---|---|---|
| Giáp, Nhâm | Càn | ba hào dương | thuần dương, "cô dương bất sinh" | không |
| Ất, Quý | Khôn | ba hào âm | thuần âm, "độc âm bất trưởng" | không |
| Mậu | Khảm | âm – dương – âm | quy giáp không vong | không |
| Kỷ | Ly | dương – âm – dương | quy giáp không vong | không |
| Bính | Cấn | âm dương xen | vượng tướng | dùng |
| Đinh | Đoài | âm dương xen | vượng tướng | dùng |
| Canh | Chấn | âm dương xen | vượng tướng | dùng |
| Tân | Tốn | âm dương xen | vượng tướng | dùng |
Bốn quẻ thuần hoặc đối xứng (Càn, Khôn, Khảm, Ly) bị loại; bốn quẻ "lệch", có âm dương phối nhau ở hào trên dưới (Chấn, Tốn, Cấn, Đoài), được dùng. Đó là một lập luận tượng số nhất quán, dù như mọi quy ước tượng số, nó không kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Kết quả: trong 120 ô chỉ còn 48 ô dùng được, mỗi sơn hai ô.
Hệ quả: hướng đúng chính giữa sơn lại không dùng được
Đây là chỗ thú vị nhất, và là gốc của câu "đặt lệch cho đúng phân kim". Vì ô giữa của mỗi sơn là Mậu hoặc Kỷ, một hướng đúng chính giữa sơn rơi vào quy giáp không vong. Ví dụ sơn Ngọ (172,5 – 187,5 độ), máy dựng ra:
| Ô | Độ | Phân kim | Dùng? |
|---|---|---|---|
| 1 | 172,5 – 175,5 | Giáp Ngọ | không (cô) |
| 2 | 175,5 – 178,5 | Bính Ngọ | dùng |
| 3 | 178,5 – 181,5 | Mậu Ngọ | không (quy giáp) |
| 4 | 181,5 – 184,5 | Canh Ngọ | dùng |
| 5 | 184,5 – 187,5 | Nhâm Ngọ | không (cô) |
Chính Nam 180 độ nằm giữa ô Mậu Ngọ. Người theo phép phân kim muốn dùng sơn Ngọ phải đặt hướng lệch sang 175,5 – 178,5 hoặc 181,5 – 184,5 độ, tức lệch khỏi chính giữa từ 1,5 tới 4,5 độ. Đồng thời, các ô 1 và 5 ở hai mép sơn cũng không dùng, khớp với lời dặn tránh đường ranh giới mà bài không vong tuyến đã nói. Nói gọn: trong mỗi sơn 15 độ, phép phân kim chỉ cho dùng hai dải 3 độ, mỗi dải cách tâm sơn từ 1,5 tới 4,5 độ.
Bảng đủ 24 sơn, hai dải dùng được của mỗi sơn (máy dựng):
| Sơn | Dải 1 | Dải 2 | Sơn | Dải 1 | Dải 2 |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Bính Tý 355,5 – 358,5 | Canh Tý 1,5 – 4,5 | Ngọ | Bính Ngọ 175,5 – 178,5 | Canh Ngọ 181,5 – 184,5 |
| Quý | Bính Tý 10,5 – 13,5 | Canh Tý 16,5 – 19,5 | Đinh | Bính Ngọ 190,5 – 193,5 | Canh Ngọ 196,5 – 199,5 |
| Sửu | Đinh Sửu 25,5 – 28,5 | Tân Sửu 31,5 – 34,5 | Mùi | Đinh Mùi 205,5 – 208,5 | Tân Mùi 211,5 – 214,5 |
| Cấn | Đinh Sửu 40,5 – 43,5 | Tân Sửu 46,5 – 49,5 | Khôn | Đinh Mùi 220,5 – 223,5 | Tân Mùi 226,5 – 229,5 |
| Dần | Bính Dần 55,5 – 58,5 | Canh Dần 61,5 – 64,5 | Thân | Bính Thân 235,5 – 238,5 | Canh Thân 241,5 – 244,5 |
| Giáp | Bính Dần 70,5 – 73,5 | Canh Dần 76,5 – 79,5 | Canh | Bính Thân 250,5 – 253,5 | Canh Thân 256,5 – 259,5 |
| Mão | Đinh Mão 85,5 – 88,5 | Tân Mão 91,5 – 94,5 | Dậu | Đinh Dậu 265,5 – 268,5 | Tân Dậu 271,5 – 274,5 |
| Ất | Đinh Mão 100,5 – 103,5 | Tân Mão 106,5 – 109,5 | Tân | Đinh Dậu 280,5 – 283,5 | Tân Dậu 286,5 – 289,5 |
| Thìn | Bính Thìn 115,5 – 118,5 | Canh Thìn 121,5 – 124,5 | Tuất | Bính Tuất 295,5 – 298,5 | Canh Tuất 301,5 – 304,5 |
| Tốn | Bính Thìn 130,5 – 133,5 | Canh Thìn 136,5 – 139,5 | Càn | Bính Tuất 310,5 – 313,5 | Canh Tuất 316,5 – 319,5 |
| Tỵ | Đinh Tỵ 145,5 – 148,5 | Tân Tỵ 151,5 – 154,5 | Hợi | Đinh Hợi 325,5 – 328,5 | Tân Hợi 331,5 – 334,5 |
| Bính | Đinh Tỵ 160,5 – 163,5 | Tân Tỵ 166,5 – 169,5 | Nhâm | Đinh Hợi 340,5 – 343,5 | Tân Hợi 346,5 – 349,5 |
Độ trong bảng là độ trên la kinh, tức theo Bắc từ. Muốn đổi sang Bắc thật cần cộng trừ độ từ thiên nơi đo (bài độ từ thiên ở Việt Nam).
Chọn giữa hai dải: phép nạp âm tiên mệnh
Mỗi sơn còn hai dải; chọn dải nào thì nhiều thầy Tam Hợp xét thêm nạp âm của phân kim so với nạp âm năm sinh người mất (gọi là tiên mệnh): phân kim sinh tiên mệnh hoặc cùng hành là tốt; phân kim khắc tiên mệnh là kém.
Ví dụ tính bằng bảng nạp âm của trang: người mất sinh năm Canh Thìn 1940, nạp âm Bạch Lạp Kim; mộ dự định quay về sơn Ngọ. Hai dải dùng được là Bính Ngọ (nạp âm Thiên Hà Thủy) và Canh Ngọ (Lộ Bàng Thổ). Thổ sinh Kim, nên theo phép này dải Canh Ngọ, 181,5 – 184,5 độ, được chọn; Bính Ngọ là Kim sinh Thủy, tức tiên mệnh bị tiết, xếp sau.
Đây là lớp tinh chỉnh cuối cùng, nằm trên mọi lớp khác: thế đất, sơn hướng, năm làm. Bài hướng mộ đặt phép này cạnh các lối chọn hướng khác.
Phái nào còn dùng
| Phái | Dùng 72 xuyên sơn, 120 phân kim? |
|---|---|
| Tam Hợp, nhất là âm trạch | dùng; xuyên sơn xét long nhập huyệt, phân kim chỉnh hướng quan tài |
| Tam Nguyên, Huyền Không | hầu như không; xét thế quái, kiêm hướng theo tinh bàn, vòng 64 quẻ |
| Bát Trạch | không; chỉ cần tám cung 45 độ |
| Thầy địa lý làng ở Việt Nam | tùy người; nhiều thầy chỉ đọc 24 sơn |
Các tài liệu giảng la kinh hiện nay cũng nhận rằng phân kim chủ yếu dùng cho âm trạch, dương trạch ít dùng.
Sách cổ nói gì
Các sách giải la kinh đời Thanh, đại ý, giảng tầng phân kim bằng khẩu quyết: Giáp Nhâm là dương cô, Ất Quý là âm hư, Mậu Kỷ là quy giáp không vong, chỉ Bính Đinh Canh Tân là vượng tướng nên dùng; và dặn "phân kim sai một sợi chỉ" thì kết quả khác hẳn. — Các sách giải la kinh đời Thanh
Bình: Câu "sai một sợi chỉ" nghe như phóng đại, nhưng với ô rộng 3 độ thì không: sợi chỉ lệch, la kinh đặt nghiêng, hay đứng gần sắt thép đều dễ gây sai 2 – 3 độ. Lời dặn ấy vô tình là lời thừa nhận rằng phép phân kim đòi một độ chính xác mà phần lớn việc đo ngoài đồng khó đạt.
Kinh Thị Dịch Truyện, đại ý, gắn mười can vào tám quẻ: Càn nạp Giáp Nhâm, Khôn nạp Ất Quý, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh. — Kinh Thị Dịch Truyện
Bình: Toàn bộ lý lẽ "cô hư vượng tướng" đứng trên bảng nạp giáp đời Hán này. Một phép tính la kinh đời Thanh dựa vào một bảng của nhà Dịch học đời Hán: đó là một ví dụ nữa cho thấy các tầng la kinh là những lớp quy ước chồng lên nhau qua nhiều thế kỷ.
Đọc cho đúng mức
Quy tắc xếp là quy ước, và các bản la kinh, sách giải không hoàn toàn thống nhất: điểm khởi Giáp Tý của 72 xuyên sơn, độ rộng ô trống, có sách đặt 120 phân kim theo vòng khác. Bảng trong bài theo quy tắc phổ biến nhất; la kinh của bạn có thể khác, hãy đọc chữ trên mặt la kinh của mình.
Độ chính xác 3 độ là thách thức thật. Độ từ thiên ở Việt Nam từ khoảng nửa độ tới gần hai độ, sai số đặt la kinh, thị sai sợi chỉ, nhiễu sắt thép cộng lại dễ vượt 3 độ. Dùng phân kim mà không xử lý những sai số này là dùng một tầng chia mịn với một phép đo thô.
Không có bằng chứng thực nghiệm cho việc phân kim Bính Ngọ hay Mậu Ngọ ảnh hưởng gì tới con cháu. Giá trị của hai tầng này là giá trị văn hóa, kỹ thuật của nghề la kinh cổ.
Với gia đình có tang, chọn hướng trong nghĩa trang quy hoạch thường đã cố định; không nên vì một ô 3 độ mà làm khó nhau hay tốn kém thêm.
Việc nên làm
- Nếu học Tam Hợp âm trạch, xác định trước la kinh của mình xếp 120 phân kim theo quy tắc nào bằng cách đọc năm chữ trong một sơn chi bất kỳ.
- Trước khi đọc phân kim, đo độ từ thiên nơi đặt mộ và kiểm sai số đo theo bài đo hướng ngoài đồng.
- Khi thầy nói "đặt lệch cho đúng phân kim", hỏi lệch sang dải nào, bao nhiêu độ, lý do nạp âm ra sao; câu trả lời rõ ràng là dấu hiệu thầy làm có phép.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Các sách giải la kinh đời Thanh, như La Kinh Giải Định, La Kinh Thấu Giải: phần xuyên sơn, phân kim, khẩu quyết cô hư vượng tướng (đại ý, theo các bản giảng hiện lưu hành).
- Kinh Phòng, Kinh Thị Dịch Truyện: bảng nạp giáp tám quẻ (đại ý).
- Bảng 72 xuyên sơn, 120 phân kim và độ từng ô: dựng bằng máy theo quy tắc xếp hoa giáp; nạp âm theo bảng của bộ máy lá số aihuyenhoc.com.
Câu hỏi thường gặp
120 phân kim là gì?
Là tầng la kinh chia mỗi sơn 15 độ thành năm ô 3 độ, mỗi ô ghi một can chi, tổng 120 ô, sáu mươi hoa giáp xuất hiện hai lần. Phái Tam Hợp dùng nó để chỉnh hướng mộ, quan tài cho thật chính xác.
Vì sao chỉ dùng phân kim Bính, Đinh, Canh, Tân?
Theo khẩu quyết cô hư vượng tướng dựa trên nạp giáp: Giáp Nhâm thuộc Càn thuần dương, Ất Quý thuộc Khôn thuần âm, Mậu Kỷ thuộc Khảm Ly là quy giáp không vong; chỉ Bính Đinh Canh Tân thuộc bốn quẻ âm dương xen nhau được coi là vượng tướng. Mỗi sơn còn hai ô dùng được, tổng 48 ô.
Vì sao mộ phải đặt lệch khỏi chính giữa sơn?
Vì ô chính giữa mỗi sơn mang can Mậu hoặc Kỷ, bị coi là không vong. Ví dụ chính Nam 180 độ rơi vào Mậu Ngọ; theo phép này phải lệch sang 175,5 – 178,5 hoặc 181,5 – 184,5 độ.
72 xuyên sơn khác 120 phân kim thế nào?
72 xuyên sơn chia mỗi sơn ba ô 5 độ, có 12 ô trống ở giữa các sơn can, duy, dùng xét long mạch đi vào huyệt. 120 phân kim chia mỗi sơn năm ô 3 độ, dùng chỉnh hướng mộ.
Xem hướng nhà có cần 120 phân kim không?
Hầu như không. Phân kim chủ yếu dùng cho âm trạch theo phái Tam Hợp; Bát Trạch chỉ cần tám cung, Huyền Không dùng tinh bàn và kiêm hướng.
Nguồn tham khảo: Các sách giải la kinh đời Thanh (La Kinh Giải Định, La Kinh Thấu Giải) — phần xuyên sơn, phân kim · Kinh Thị Dịch Truyện — Kinh Phòng — nạp giáp tám quẻ · Bảng 72 xuyên sơn và 120 phân kim dựng bằng máy theo quy tắc xếp hoa giáp, đối chiếu tài liệu giảng la kinh