Mỗi sơn 15 độ: bảng độ chính xác của 24 sơn, vùng kiêm hướng và vùng không vong

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Mỗi sơn 15 độ: bảng độ chính xác của 24 sơn, vùng kiêm hướng và vùng không vong

Mỗi sơn trên la kinh rộng đúng 15 độ, sơn Tý lấy chính Bắc 0 độ làm tâm. Khi đo nhà, mỗi sơn nên chia làm năm vùng: 9 độ ở giữa là chính hướng; hai bên mỗi bên 1,5 độ là vùng kiêm còn dùng được; sát ranh giới mỗi bên 1,5 độ là vùng không vong. Bảng dưới cho số độ cụ thể của cả 24 sơn.

Từ bảng 15 độ sang bảng để đo

Bài hai mươi bốn sơn hướng đã có bảng gốc: sơn nào từ bao nhiêu độ tới bao nhiêu độ, thuộc quẻ nào. Bảng ấy trả lời câu "số này thuộc sơn nào". Nhưng khi cầm la kinh đứng trước một căn nhà, người đo cần biết thêm một điều: số này nằm ở giữa sơn hay sát mép. Nằm giữa thì yên tâm; sát mép thì phải xét kiêm hướng, hoặc rơi vào đường không vong mà sách khuyên không lập hướng.

Vì vậy bảng ở đây chia mỗi sơn 15 độ thành năm vùng, theo một quy ước được dùng phổ biến:

VùngBề rộngNằm ởĐọc thế nào
Chính9 độgiữa sơn, tâm sơn ±4,5 độtọa hướng rõ, lập tinh bàn bình thường
Kiêm1,5 độ mỗi bêntừ 4,5 tới 6 độ lệch khỏi tâmnhà lệch về sơn bên cạnh; phái Huyền Không tính thế quái
Không vong1,5 độ mỗi bênsát đường ranh giớinằm trên đường ranh giới, sách khuyên tránh lập hướng mới

Các phái đặt ngưỡng không giống nhau: có thầy rộng tay hơn với vùng kiêm, có thầy coi cả 3 độ sát ranh giới đều là không vong. Bảng dưới theo quy ước 9 – 1,5 – 1,5 vì nó khớp với dải 3 độ quanh mỗi đường ranh giới mà bài không vong tuyến dùng để đếm.

Bảng vùng của 24 sơn

Độ tính trên Địa Bàn chính châm, từ chính Bắc theo chiều kim đồng hồ, bảng tính bằng máy từ các ranh giới 7,5; 22,5; 37,5… Chữ "(đại)" đánh dấu vùng không vong nằm trên đường giữa hai quẻ, tức đại không vong. Cột kiêm ghi luôn loại ranh giới: cùng âm dương (giữa sơn thiên nguyên và nhân nguyên cùng quẻ, nhẹ nhất), lệch âm dương (giữa địa nguyên và thiên nguyên cùng quẻ), khác quẻ (vượt sang quẻ bên cạnh, nặng nhất).

SơnKhông vong đầuKiêm về sơn trướcChínhKiêm về sơn sauKhông vong cuối
Nhâm337,5 – 339 (đại)339 – 340,5: kiêm Hợi, khác quẻ340,5 – 349,5349,5 – 351: kiêm Tý, lệch âm dương351 – 352,5
Tý352,5 – 354354 – 355,5: kiêm Nhâm, lệch âm dương355,5 – 4,54,5 – 6: kiêm Quý, cùng âm dương6 – 7,5
Quý7,5 – 99 – 10,5: kiêm Tý, cùng âm dương10,5 – 19,519,5 – 21: kiêm Sửu, khác quẻ21 – 22,5 (đại)
Sửu22,5 – 24 (đại)24 – 25,5: kiêm Quý, khác quẻ25,5 – 34,534,5 – 36: kiêm Cấn, lệch âm dương36 – 37,5
Cấn37,5 – 3939 – 40,5: kiêm Sửu, lệch âm dương40,5 – 49,549,5 – 51: kiêm Dần, cùng âm dương51 – 52,5
Dần52,5 – 5454 – 55,5: kiêm Cấn, cùng âm dương55,5 – 64,564,5 – 66: kiêm Giáp, khác quẻ66 – 67,5 (đại)
Giáp67,5 – 69 (đại)69 – 70,5: kiêm Dần, khác quẻ70,5 – 79,579,5 – 81: kiêm Mão, lệch âm dương81 – 82,5
Mão82,5 – 8484 – 85,5: kiêm Giáp, lệch âm dương85,5 – 94,594,5 – 96: kiêm Ất, cùng âm dương96 – 97,5
Ất97,5 – 9999 – 100,5: kiêm Mão, cùng âm dương100,5 – 109,5109,5 – 111: kiêm Thìn, khác quẻ111 – 112,5 (đại)
Thìn112,5 – 114 (đại)114 – 115,5: kiêm Ất, khác quẻ115,5 – 124,5124,5 – 126: kiêm Tốn, lệch âm dương126 – 127,5
Tốn127,5 – 129129 – 130,5: kiêm Thìn, lệch âm dương130,5 – 139,5139,5 – 141: kiêm Tỵ, cùng âm dương141 – 142,5
Tỵ142,5 – 144144 – 145,5: kiêm Tốn, cùng âm dương145,5 – 154,5154,5 – 156: kiêm Bính, khác quẻ156 – 157,5 (đại)
Bính157,5 – 159 (đại)159 – 160,5: kiêm Tỵ, khác quẻ160,5 – 169,5169,5 – 171: kiêm Ngọ, lệch âm dương171 – 172,5
Ngọ172,5 – 174174 – 175,5: kiêm Bính, lệch âm dương175,5 – 184,5184,5 – 186: kiêm Đinh, cùng âm dương186 – 187,5
Đinh187,5 – 189189 – 190,5: kiêm Ngọ, cùng âm dương190,5 – 199,5199,5 – 201: kiêm Mùi, khác quẻ201 – 202,5 (đại)
Mùi202,5 – 204 (đại)204 – 205,5: kiêm Đinh, khác quẻ205,5 – 214,5214,5 – 216: kiêm Khôn, lệch âm dương216 – 217,5
Khôn217,5 – 219219 – 220,5: kiêm Mùi, lệch âm dương220,5 – 229,5229,5 – 231: kiêm Thân, cùng âm dương231 – 232,5
Thân232,5 – 234234 – 235,5: kiêm Khôn, cùng âm dương235,5 – 244,5244,5 – 246: kiêm Canh, khác quẻ246 – 247,5 (đại)
Canh247,5 – 249 (đại)249 – 250,5: kiêm Thân, khác quẻ250,5 – 259,5259,5 – 261: kiêm Dậu, lệch âm dương261 – 262,5
Dậu262,5 – 264264 – 265,5: kiêm Canh, lệch âm dương265,5 – 274,5274,5 – 276: kiêm Tân, cùng âm dương276 – 277,5
Tân277,5 – 279279 – 280,5: kiêm Dậu, cùng âm dương280,5 – 289,5289,5 – 291: kiêm Tuất, khác quẻ291 – 292,5 (đại)
Tuất292,5 – 294 (đại)294 – 295,5: kiêm Tân, khác quẻ295,5 – 304,5304,5 – 306: kiêm Càn, lệch âm dương306 – 307,5
Càn307,5 – 309309 – 310,5: kiêm Tuất, lệch âm dương310,5 – 319,5319,5 – 321: kiêm Hợi, cùng âm dương321 – 322,5
Hợi322,5 – 324324 – 325,5: kiêm Càn, cùng âm dương325,5 – 334,5334,5 – 336: kiêm Nhâm, khác quẻ336 – 337,5 (đại)

Hai quy luật giúp nhớ mà không cần bảng. Một: sơn địa nguyên (Nhâm, Sửu, Giáp, Thìn, Bính, Mùi, Canh, Tuất) luôn có đại không vong ở đầu; sơn nhân nguyên (Quý, Dần, Ất, Tỵ, Đinh, Thân, Tân, Hợi) luôn có đại không vong ở cuối. Hai: sơn thiên nguyên (Tý, Cấn, Mão, Tốn, Ngọ, Khôn, Dậu, Càn) nằm giữa quẻ nên không chạm đại không vong nào; đây là tám sơn "an toàn nhất" khi đo lệch vài độ.

Đọc một số đo qua bảng

Số đo (hướng từ)SơnVùngGhi chú
168Bínhchínhyên tâm, lập tinh bàn Bính bình thường
170,2Bínhkiêm NgọBính kiêm Ngọ, ranh giới lệch âm dương; Huyền Không xét thế quái
171,8Bínhkhông vong cuốicách đường Bính – Ngọ chưa tới một độ; đo lại trước khi kết luận
186,5Ngọkhông vong cuốisát đường Ngọ – Đinh, loại nhẹ nhất (cùng âm dương)
203Mùikhông vong đầu (đại)sát đường Ly – Khôn, đại không vong

Hai số cuối cho thấy cùng là "không vong" mà nặng nhẹ khác nhau. Sát đường Ngọ – Đinh, hai sơn cùng quẻ Ly, cùng âm, nhiều thầy Huyền Không vẫn cho kiêm. Sát đường Đinh – Mùi là ra khỏi quẻ, sách kiêng nặng nhất. Cách tính thế quái cho nhà kiêm có ở bài thế quái (kiêm hướng).

Một phần năm số hướng nằm sát ranh giới

Cộng lại trên cả vòng 360 độ:

VùngTổng bề rộngTỉ lệ số hướng
Chính24 × 9 = 216 độ60%
Kiêm còn dùng được24 × 3 = 72 độ20%
Không vong (cả hai loại)24 × 3 = 72 độ20%
trong đó đại không vong8 × 3 = 24 độkhoảng 6,7%

Nghĩa là nếu nhà quay về một hướng bất kỳ, cứ năm nhà thì ba nhà nằm vùng chính, một nhà ở vùng kiêm, một nhà sát đường không vong. Gặp vùng kiêm hay không vong là chuyện thường, không phải điềm gì đặc biệt.

Sai số bao nhiêu thì vẫn biết chắc sơn

Bảng vùng chỉ có ích khi số đo đủ chắc. Nếu sai số đo của bạn là ±e độ, thì một số đo chỉ "chắc sơn" khi nó cách ranh giới gần nhất hơn e độ. Phần sơn còn chắc là (15 − 2e) trên 15:

Sai số đoPhần sơn biết chắcVí dụ dụng cụ, cách đo
±1 độ87%la kinh tốt, đo nhiều lần ở chỗ sạch
±2 độ73%điện thoại đã hiệu chỉnh, đo ba điểm, khớp ảnh vệ tinh
±3 độ60%điện thoại đo nhanh ở chỗ thoáng
±5 độ33%đo vội ở cửa, gần xe máy

Đọc ngược bảng: muốn phân biệt được vùng kiêm 1,5 độ, sai số phải dưới 1,5 độ. Điện thoại đo vội không làm được việc đó. Đây là lý do người hành nghề Huyền Không cẩn thận dùng la kinh tốt, đo nhiều lần và kiểm bằng mốc ngoài như ảnh vệ tinh (bài đo hướng nhà sai ở đâu).

Sách cổ nói gì

Thẩm Thị Huyền Không Học của Thẩm Trúc Nhưng, khi bàn nhà kiêm hướng, đại ý: nhà lệch ít khỏi chính hướng thì vẫn dùng tinh bàn của sơn ấy; lệch nhiều tới mức sát sơn bên cạnh thì phải dùng phép thế quái; còn hướng nằm trên đường giữa hai quẻ thì không nên lập. — Thẩm Thị Huyền Không Học (đại ý)

Bình: sách nói "lệch ít", "lệch nhiều", không cho một con số độ thống nhất; các ngưỡng 4,5 độ, 6 độ trong bảng trên là cách người đời sau đổi lời sách thành vạch đo. Đó là việc nên làm, vì không có vạch thì không ai kiểm được ai. Nhưng nên nhớ vạch ấy là quy ước của người dùng la kinh, không phải chữ trong sách; gặp thầy dùng ngưỡng khác, hãy hỏi thầy dùng ngưỡng nào chứ đừng vội cho là sai.

Đọc cho đúng mức

  • Ngưỡng 9 – 1,5 – 1,5 là một quy ước phổ biến, không phải luật chung của mọi phái. Tam Hợp xét phân kim, Huyền Không xét thế quái, Bát Trạch chỉ cần tám cung 45 độ; mỗi phái để ý tới mép sơn ở mức khác nhau.
  • Bảng tính trên Địa Bàn chính châm và đọc theo hướng từ (số đọc trên kim). Nếu số đo của bạn là hướng thật (ảnh vệ tinh, điện thoại để Bắc thật), cộng độ từ thiên trước khi tra: khoảng 1,7 độ ở Hà Nội, 0,6 độ ở TP.HCM (bài độ từ thiên ở Việt Nam).
  • Không vong là chuyện của việc lập hướng mới. Nhà đã xây nằm trên vùng không vong không vì thế mà "hỏng"; người lập tinh bàn sẽ xét cả hai phía.
  • Một số đo chưa chắc thì mọi tầng chia nhỏ hơn đều vô nghĩa.

Việc nên làm

  1. Đo hướng nhà theo hướng từ, ít nhất ba lần, lấy số giữa.
  2. Tra bảng: sơn nào, vùng nào.
  3. Nếu ở vùng chính: dùng được ngay. Nếu ở vùng kiêm: ghi rõ "X kiêm Y" và loại ranh giới. Nếu ở vùng không vong: đo lại bằng cách khác trước khi kết luận.
  4. Ghi số độ cụ thể, không chỉ tên sơn, để người khác kiểm lại được.
🧭Hướng nhà Bát Trạch
Cung phi chủ nhà, tám phương cát hung, đặt cửa – bếp – giường.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Thẩm Trúc Nhưng — Thẩm Thị Huyền Không Học, phần kiêm hướng và thế quái (đại ý).
  • Bảng độ 24 sơn trên Địa Bàn chính châm, như bài 24 sơn hướng của aihuyenhoc.com.
  • Bảng vùng chính, kiêm, không vong và các tỉ lệ: tính bằng máy từ ranh giới 24 sơn, soát tay ở bốn sơn Tý, Mão, Ngọ, Dậu.

Câu hỏi thường gặp

Mỗi sơn trên la kinh rộng bao nhiêu độ?

Đúng 15 độ. Vòng 360 độ chia đều cho 24 sơn; sơn Tý lấy chính Bắc làm tâm nên trải từ 352,5 tới 7,5 độ.

Kiêm hướng là lệch bao nhiêu độ?

Theo quy ước phổ biến dùng trong bài, nhà lệch khỏi tâm sơn từ 4,5 tới 6 độ là vùng kiêm; lệch hơn 6 độ, tức cách ranh giới dưới 1,5 độ, là vùng không vong. Các phái đặt ngưỡng khác nhau đôi chút.

Đại không vong nằm ở những độ nào?

Ở tám đường giữa hai quẻ: 22,5; 67,5; 112,5; 157,5; 202,5; 247,5; 292,5 và 337,5 độ. Vùng kiêng thường tính 1,5 độ mỗi bên đường.

Sơn nào ít bị không vong nhất?

Tám sơn thiên nguyên Tý, Cấn, Mão, Tốn, Ngọ, Khôn, Dậu, Càn nằm giữa quẻ, hai bên chỉ giáp sơn cùng quẻ, nên không chạm đường đại không vong nào.

Đo bằng điện thoại có đủ để biết nhà kiêm hay không?

Thường là không. Vùng kiêm chỉ rộng 1,5 độ, muốn phân biệt phải đo với sai số dưới 1,5 độ, tức la kinh tốt, đo nhiều lần, kiểm bằng ảnh vệ tinh.

Nguồn tham khảo: Thẩm Thị Huyền Không Học — Thẩm Trúc Nhưng — phần kiêm hướng, thế quái · Bảng độ 24 sơn trên Địa Bàn chính châm (la kinh Tam Hợp, Tam Nguyên) · Bảng vùng tính bằng máy từ ranh giới 24 sơn của aihuyenhoc.com

Đo hướng ngoài đồng, ngoài nghĩa trang: lấy tuyến bằng hai cọc và dây, tránh sai số ở nơi trốngĐo hướng đất trống, hướng mộ ngoài đồng: lấy tuyến bằng hai cọc và dây, ngắm thuận ngắm ngược, vì sao tuyến dài ít sai, cách ngườ…
Ứng dụng la bàn điện thoại: hiệu chỉnh, chế độ Bắc thật, và vì sao hai máy ra hai sốỨng dụng la bàn điện thoại đo hướng thế nào, hiệu chỉnh hình số 8 sửa gì, bật Bắc thật ở đâu trên iPhone, Android, và phép thử ha…
Tầng 120 phân kim và 72 xuyên sơn: hai tầng ít người dùng trên la kinh, xếp thế nào và vì sao mộ phải đặt lệchTầng 120 phân kim và 72 xuyên sơn trên la kinh: cách xếp hoa giáp, vì sao chỉ dùng Bính Đinh Canh Tân, vì sao hướng mộ đặt lệch k…
La kinh Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam: chọn loại nào và kiểm tại chỗ thế nàoLa kinh Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam khác nhau ra sao, chọn loại nào theo phái học, và sáu phép thử kim, đế, sợi chỉ ngay tại ch…
Độ lệch từ ở Việt Nam: chưa tới 2 độ, có cần chỉnh khi đo hướng nhàĐộ từ thiên ở Việt Nam theo mô hình WMM2025: khoảng -1,7° ở Hà Nội, -1,4° ở Đà Nẵng, -0,6° ở TP.HCM. Khi nào cần chỉnh lúc đo hướ…
Ba vòng 24 sơn trên la kinh: Địa Bàn chính châm, Nhân Bàn trung châm, Thiên Bàn phùng châmĐịa Bàn chính châm, Nhân Bàn trung châm, Thiên Bàn phùng châm: ba vòng 24 sơn lệch nhau 7,5 độ, bảng độ số đủ 24 sơn, vòng nào để…