Mười hai cung hoàng đạo theo ngày sinh và vì sao ngày ranh giới lệch mỗi năm
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 14 phút đọc
Mười hai cung hoàng đạo là mười hai đoạn bằng nhau, mỗi đoạn 30 độ, trên đường Mặt Trời đi qua trong một năm. Cung của bạn là đoạn Mặt Trời đang đứng lúc bạn sinh. Ngày ranh giới không cố định vì Mặt Trời vào cung theo giờ thiên văn, mỗi năm trễ thêm gần sáu tiếng rồi lùi lại ở năm nhuận, nên người sinh giáp ranh phải tra đúng năm, đúng giờ.
📅Lịch âm – lịch vạn niênLịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.Mở
Bảng tra 12 cung hoàng đạo theo giờ Việt Nam
Bảng dưới không chép từ trang khác. Chúng tôi tính thời điểm Mặt Trời tới từng mốc 0°, 30°, 60°… cho mọi năm từ 1950 đến 2030, đổi sang giờ Việt Nam (UTC+7), rồi đếm xem ngày vào cung rơi vào những ngày nào. Cột "ngày vào cung" ghi ngày hay gặp nhất trước, ngày hiếm hơn trong ngoặc kèm số năm.
| Cung | Mặt Trời ở | Ngày vào cung (giờ VN, 1950 – 2030) | Khoảng ngày thường ghi | Năm 2027 vào cung lúc |
|---|---|---|---|---|
| Bạch Dương | 0° – 30° | 21/3 (44 năm) hoặc 20/3 (37 năm) | 21/3 – 19/4 | 03:24 ngày 21/3 |
| Kim Ngưu | 30° – 60° | 20/4 (68) · 19/4 (6) · 21/4 (7) | 20/4 – 20/5 | 14:17 ngày 20/4 |
| Song Tử | 60° – 90° | 21/5 (68) · 20/5 (7) · 22/5 (6) | 21/5 – 21/6 | 13:17 ngày 21/5 |
| Cự Giải | 90° – 120° | 21/6 (56) hoặc 22/6 (25) | 22/6 – 22/7 | 21:10 ngày 21/6 |
| Sư Tử | 120° – 150° | 23/7 (62) hoặc 22/7 (19) | 23/7 – 22/8 | 08:04 ngày 23/7 |
| Xử Nữ | 150° – 180° | 23/8 (67) · 22/8 (4) · 24/8 (10) | 23/8 – 22/9 | 15:13 ngày 23/8 |
| Thiên Bình | 180° – 210° | 23/9 (69) · 22/9 (7) · 24/9 (5) | 23/9 – 23/10 | 13:01 ngày 23/9 |
| Bọ Cạp | 210° – 240° | 23/10 (52) hoặc 24/10 (29) | 24/10 – 22/11 | 22:32 ngày 23/10 |
| Nhân Mã | 240° – 270° | 22/11 (61) hoặc 23/11 (20) | 23/11 – 21/12 | 20:16 ngày 22/11 |
| Ma Kết | 270° – 300° | 22/12 (64) hoặc 21/12 (17) | 22/12 – 19/1 | 09:42 ngày 22/12 |
| Bảo Bình | 300° – 330° | 20/1 (61) hoặc 21/1 (20) | 20/1 – 18/2 | 14:30 ngày 20/1 |
| Song Ngư | 330° – 360° | 19/2 (67) hoặc 18/2 (14) | 19/2 – 20/3 | 04:33 ngày 19/2 |
Cách đọc: nếu ngày sinh của bạn nằm giữa hai cột ranh giới, cung đã rõ, không cần tra gì thêm. Chỉ người sinh trong khoảng một ngày quanh ngày vào cung mới cần xem năm và giờ. Cột "khoảng ngày thường ghi" là cách các trang mạng hay viết; nó đúng với đa số năm nhưng không phải luật.
Kinh độ 0° là điểm xuân phân, nơi Mặt Trời cắt xích đạo trời đi lên phía bắc. Đó là điểm gốc của cả vòng. Muốn hiểu vì sao lấy điểm ấy chứ không lấy một ngôi sao, xem bài vì sao cung hoàng đạo lệch khỏi chòm sao.
Vì sao ngày ranh giới đổi mỗi năm
Có ba lý do chồng lên nhau, và người sinh giáp ranh nên biết cả ba.
Năm thiên văn không tròn 365 ngày
Mặt Trời đi hết một vòng hoàng đạo, từ xuân phân này tới xuân phân sau, mất khoảng 365,2422 ngày. Năm dương lịch thường chỉ có 365 ngày. Phần dư gần sáu tiếng cứ thế dồn lại: mỗi năm Mặt Trời vào cung muộn hơn năm trước chừng 5 giờ 50 phút, đến năm nhuận lịch chèn thêm ngày 29/2 thì mốc lùi lại gần một ngày.
Theo dõi mốc Mặt Trời vào Bạch Dương, giờ Việt Nam:
| Năm | Vào Bạch Dương | Ghi chú |
|---|---|---|
| 2024 | 10:06 ngày 20/3 | năm nhuận |
| 2025 | 16:01 ngày 20/3 | trễ 5 giờ 55 phút |
| 2026 | 21:45 ngày 20/3 | trễ 5 giờ 44 phút |
| 2027 | 03:24 ngày 21/3 | qua nửa đêm, sang ngày 21 |
| 2028 | 09:17 ngày 20/3 | năm nhuận, lùi về ngày 20 |
Cùng sinh ngày 21/3, người sinh năm 2026 là Bạch Dương cả ngày, còn người sinh năm 2027 lúc 2 giờ sáng vẫn là Song Ngư, sau 3 giờ 24 mới sang Bạch Dương.
Quy tắc năm nhuận làm mốc trôi theo thế kỷ
Lịch Gregory bỏ năm nhuận ở các năm tròn trăm không chia hết cho 400. Năm 1900 không nhuận, năm 2000 có nhuận. Hệ quả là suốt thế kỷ 21, các mốc vào cung trôi dần về sớm. Mốc vào Bạch Dương những năm 1950 thường rơi vào ngày 21/3; những năm 2020 lại thường rơi vào ngày 20/3. Bảng ngày cố định in trong sách cũ của thế hệ trước vì vậy lệch nhẹ với trẻ sinh hôm nay.
Múi giờ: bảng của nước ngoài tính theo giờ khác
Phần lớn bảng cung hoàng đạo trên mạng dịch từ nguồn châu Âu, Mỹ, tính theo giờ quốc tế (UTC) hoặc giờ miền đông nước Mỹ. Việt Nam đi trước UTC bảy tiếng. Khi Mặt Trời vào cung sau 17 giờ theo giờ quốc tế, ở Việt Nam đã sang ngày hôm sau.
Ví dụ năm 2027, Mặt Trời vào Bạch Dương lúc 20:24 ngày 20/3 theo giờ quốc tế, tức 03:24 ngày 21/3 ở Việt Nam. Một bảng tính theo giờ quốc tế sẽ ghi Bạch Dương bắt đầu từ 20/3, trong khi người sinh ở Hà Nội ngày 20/3/2027 vẫn là Song Ngư trọn ngày. Trong 81 năm từ 1950 đến 2030, mốc Bạch Dương rơi vào ngày 20/3 ở 59 năm nếu tính theo giờ quốc tế, nhưng chỉ 37 năm nếu tính theo giờ Việt Nam.
Người sinh ở miền Nam trước năm 1975 còn một lớp nữa: đồng hồ khi ấy chạy theo múi giờ khác, nên giờ ghi trên giấy cần quy đổi trước khi tra. Bài giờ sinh và múi giờ Việt Nam có bảng các lần đổi giờ.
Mười hai cung trùng đúng mười hai trung khí của lịch ta
Đây là chỗ ít trang nào nói, và là cây cầu tự nhiên giữa chiêm tinh với lịch Việt. Hai mươi bốn tiết khí trong lịch âm dương cũng được định bằng kinh độ Mặt Trời, mỗi tiết cách nhau 15 độ. Mười hai tiết rơi đúng bội số của 30 độ, gọi là trung khí. Mặt Trời vào một cung hoàng đạo chính là lúc lịch ta sang một trung khí.
| Cung hoàng đạo | Bắt đầu ở | Trung khí cùng lúc | Tháng âm thường chứa trung khí ấy |
|---|---|---|---|
| Bạch Dương | 0° | Xuân phân | tháng Hai |
| Kim Ngưu | 30° | Cốc vũ | tháng Ba |
| Song Tử | 60° | Tiểu mãn | tháng Tư |
| Cự Giải | 90° | Hạ chí | tháng Năm |
| Sư Tử | 120° | Đại thử | tháng Sáu |
| Xử Nữ | 150° | Xử thử | tháng Bảy |
| Thiên Bình | 180° | Thu phân | tháng Tám |
| Bọ Cạp | 210° | Sương giáng | tháng Chín |
| Nhân Mã | 240° | Tiểu tuyết | tháng Mười |
| Ma Kết | 270° | Đông chí | tháng Một (tháng Mười Một) |
| Bảo Bình | 300° | Đại hàn | tháng Chạp |
| Song Ngư | 330° | Vũ thủy | tháng Giêng |
Chúng tôi đối chiếu bảng giờ vào cung năm 2027 với hàm tiết khí của bộ máy âm lịch của site: ngày 19/2/2027 lúc nửa đêm lịch còn ở tiết Lập xuân, sang 20/2 đã là Vũ thủy, khớp với mốc Mặt Trời vào Song Ngư lúc 04:33 ngày 19/2. Bốn mốc khác thử cùng cách (Xuân phân, Đại thử, Thu phân, Đông chí) đều khớp. Hai cách tính độc lập ra cùng một con số.
Hệ quả thực tế: nếu bạn có cuốn lịch vạn niên ghi giờ vào tiết, bạn đã có sẵn bảng cung hoàng đạo chính xác cho năm đó, chỉ cần nhìn mười hai trung khí. Bài lịch tiết khí 2027 ghi đủ giờ vào tiết theo giờ Việt Nam.
Cũng từ bảng này thấy rõ một điều: tháng âm lịch không dùng được để tra cung hoàng đạo. Trung khí có thể rơi đầu hoặc cuối tháng âm, nên cùng "tháng Hai âm" có năm phần lớn là Song Ngư, có năm phần lớn là Bạch Dương.
Từng cung: tên gọi, nguyên tố và chủ tinh cổ
Tên tiếng Việt của mười hai cung đi qua đường chữ Hán. Theo các nghiên cứu về lịch sử thiên văn, tên mười hai cung phương Tây vào Trung Hoa cùng kinh sách Phật giáo, rõ nhất là trong Tú Diệu Kinh do Bất Không dịch đời Đường, thế kỷ thứ tám; tên gọi qua nhiều bản có thay đổi, bộ tên ta dùng hôm nay đã chuẩn hoá về sau. Dấu vết đường Ấn Độ còn trong chữ Ma Kết: đó là phiên âm chữ Phạn makara, một loài thủy quái đầu thú đuôi cá, chứ không phải tên một con vật quen thuộc như các cung khác.
Mỗi cung được xếp theo ba lớp: nguyên tố (Lửa, Đất, Khí, Nước), tính chất (Thống lĩnh, Kiên định, Linh hoạt) và chủ tinh, tức thiên thể "cai quản" cung theo chiêm tinh cổ điển của Ptolemy. Chủ tinh dưới đây là bộ bảy thiên thể cổ; các trường phái hiện đại gán thêm Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương cho Bảo Bình, Song Ngư, Bọ Cạp.
Bạch Dương (21/3 – 19/4)
"Cừu trắng". Lửa, Thống lĩnh, chủ tinh Sao Hỏa. Cung mở đầu vòng vì bắt đầu ở xuân phân. Mô tả quen thuộc: bộc trực, thích bắt đầu việc mới. Hãy để ý chữ "bắt đầu": mô tả ấy phần lớn suy ra từ vị trí đầu vòng và từ Sao Hỏa, chứ không từ khảo sát người thật.
Kim Ngưu (20/4 – 20/5)
"Trâu vàng", nhiều sách dịch là bò vàng. Đất, Kiên định, chủ tinh Sao Kim. Giữa mùa xuân Bắc bán cầu, lúc mùa màng đã vào nếp; mô tả thường nói kiên nhẫn, chuộng sự ổn định, vững vàng.
Song Tử (21/5 – 21/6)
"Đôi con", tức cặp sinh đôi. Khí, Linh hoạt, chủ tinh Sao Thủy. Cung cuối mùa xuân, mô tả gắn với ăn nói, linh hoạt, nhiều mối quan tâm cùng lúc.
Cự Giải (22/6 – 22/7)
"Cua lớn". Nước, Thống lĩnh, chủ tinh Mặt Trăng. Bắt đầu ở hạ chí. Hình ảnh con cua có vỏ cứng che phần mềm bên trong dẫn tới các mô tả về gia đình, nhà cửa, sự che chở.
Sư Tử (23/7 – 22/8)
Lửa, Kiên định, chủ tinh Mặt Trời. Cung duy nhất do Mặt Trời cai quản, giữa mùa nóng nhất; mô tả gắn với sự tự tin, thích được ghi nhận.
Xử Nữ (23/8 – 22/9)
"Người con gái ở nhà", tức thiếu nữ chưa chồng; có bản cũ gọi là Song Nữ. Đất, Linh hoạt, chủ tinh Sao Thủy. Hình người cầm bông lúa của mùa gặt; mô tả gắn với tỉ mỉ, kỹ lưỡng.
Thiên Bình (23/9 – 23/10)
"Cái cân trời". Khí, Thống lĩnh, chủ tinh Sao Kim. Bắt đầu ở thu phân, lúc ngày và đêm dài bằng nhau, nên biểu tượng là cái cân. Đây là cung duy nhất mang hình một đồ vật.
Bọ Cạp (24/10 – 22/11)
Hán Việt là Thiên Yết; dân gian còn gọi Hổ Cáp, Thần Nông. Nước, Kiên định, chủ tinh cổ Sao Hỏa. Mô tả hay nói sâu sắc, kín đáo.
Nhân Mã (23/11 – 21/12)
"Người ngựa", hình xạ thủ nửa người nửa ngựa. Lửa, Linh hoạt, chủ tinh Sao Mộc. Mô tả gắn với đi xa, học hỏi, tự do.
Ma Kết (22/12 – 19/1)
Từ makara như đã nói; phương Tây vẽ thành dê đuôi cá. Đất, Thống lĩnh, chủ tinh Sao Thổ. Bắt đầu ở đông chí; mô tả gắn với bền bỉ, có kế hoạch.
Bảo Bình (20/1 – 18/2)
"Bình quý", hình người đổ nước. Khí, Kiên định, chủ tinh cổ Sao Thổ. Mô tả gắn với độc lập, khác người.
Song Ngư (19/2 – 20/3)
"Đôi cá". Nước, Linh hoạt, chủ tinh cổ Sao Mộc. Cung cuối vòng; mô tả gắn với giàu cảm xúc, dễ đồng cảm.
Bốn nguyên tố của chiêm tinh không đổi qua ngũ hành được; các bảng "Bạch Dương mệnh Hỏa" trên mạng là ghép tên. Bài bốn nguyên tố và ngũ hành giải thích vì sao.
Mỗi cung là một đoạn đường, không phải một chòm sao
Một nhầm lẫn rất phổ biến: tưởng "cung Bạch Dương" nghĩa là Mặt Trời đang nằm trước chòm sao Bạch Dương. Ngày nay không còn đúng nữa. Chiêm tinh phương Tây dùng hoàng đạo nhiệt đới: cung được đo từ điểm xuân phân, chia đều 30 độ. Chòm sao thật thì to nhỏ không đều và đã trôi lệch gần một cung so với hai nghìn năm trước, do trục Trái Đất xoay chậm.
Năm 2027, tính theo ranh giới chòm sao chính thức của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế, Mặt Trời thật sự nằm trước chòm Bạch Dương từ khoảng 19/4 đến 15/5, gần như trùng thời gian của "cung Kim Ngưu". Chiêm tinh Ấn Độ chọn cách khác: đo cung theo sao, nên cung Mặt Trời của đa số người Việt theo phép Ấn lùi một cung so với phép Tây. Xem bài chiêm tinh Ấn Độ.
Người theo chiêm tinh phương Tây không coi đây là lỗi: từ thời Ptolemy, cung đã được định theo mùa chứ không theo sao. Người phê bình thì coi đây là bằng chứng các mô tả tính cách không đến từ "ảnh hưởng của chòm sao". Cả hai cách nhìn đều cần nắm cùng một sự thật thiên văn trước khi tranh luận.
Sinh đúng ngày giáp ranh: tra thế nào cho chắc
Người sinh trong khoảng một ngày quanh mốc vào cung làm theo ba bước:
- Lấy giờ sinh và nơi sinh. Giấy chứng sinh của bệnh viện thường ghi giờ phút; giấy khai sinh thường không ghi giờ. Nếu không có giờ, chỉ có thể nói "có thể thuộc một trong hai cung".
- Quy về giờ Việt Nam đúng thời điểm sinh. Người sinh ở nước ngoài dùng giờ nơi sinh; người sinh ở miền Nam trước 1975 kiểm múi giờ.
- So với giờ vào cung của đúng năm sinh, không so với bảng ngày cố định. Năm 2027 đã có ở bảng đầu bài; năm khác tra giờ vào trung khí trong lịch tiết khí năm ấy.
Có một cách nói hay gặp: người sinh giáp ranh "mang nét của cả hai cung", gọi là sinh trên "đỉnh cung". Theo chính lý thuyết chiêm tinh, Mặt Trời ở 29,9° Song Ngư vẫn là Song Ngư; khái niệm "đỉnh cung" là cách nói phổ thông, sách chiêm tinh cổ điển không dùng. Nếu bạn ở ranh giới, phần quyết định hơn là các yếu tố khác trong bản đồ sao cá nhân, nhất là cung Mọc và cung Mặt Trăng.
Cung Mặt Trời chỉ là một phần mười hai của câu chuyện
Mục "cung hoàng đạo hôm nay" trên báo chỉ dùng cung Mặt Trời, vì đó là thứ duy nhất đoán được từ ngày sinh mà không cần giờ. Nhưng trong chiêm tinh, cung Mặt Trời chỉ là một trong mười thiên thể, đặt trên mười hai nhà, nối với nhau bằng các góc chiếu.
So với Tử Vi, cung Mặt Trời gần giống việc chỉ biết năm sinh mà luận cả đời: đủ để nói chuyện cho vui, không đủ để đọc một người. Bài Tử Vi và chiêm tinh khác nhau đặt hai hệ cạnh nhau, còn bài cung hoàng đạo và con giáp giải thích vì sao hai vòng mười hai không dịch qua lại được.
Sách cổ nói gì
Đại ý, Ptolemy trong Tetrabiblos (thế kỷ thứ hai) viết rằng hợp lẽ nhất là tính điểm khởi của các cung từ hai điểm phân và hai điểm chí, vì tính chất của các cung sinh ra từ đó; nếu lấy điểm khởi khác thì hoặc phải thôi dùng tính chất của cung để đoán, hoặc dùng mà sai. — Ptolemy, Tetrabiblos, quyển I (qua bản dịch)
Bình: câu này giải thích vì sao chiêm tinh phương Tây chấp nhận cung lệch khỏi chòm sao. Ngay từ văn bản nền tảng, cung đã là một đơn vị của mùa, gắn với xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí, giống hệt cách lịch phương Đông gắn trung khí với Mặt Trời. Ptolemy sống ở Alexandria, Bắc bán cầu; người phê bình chỉ ra rằng ở Nam bán cầu, Bạch Dương bắt đầu vào mùa thu, nên lý lẽ "theo mùa" cũng chỉ đúng cho một nửa Trái Đất.
Đại ý, Tú Diệu Kinh liệt kê mười hai cung, tả tính chất từng cung và đặt chúng tương ứng với các tú, mỗi cung ứng với hơn hai tú. — Tú Diệu Kinh, Bất Không dịch (đại ý theo các nghiên cứu)
Bình: bản kinh này là dấu mốc cho thấy mười hai cung phương Tây đã vào văn hoá chữ Hán từ hơn một nghìn hai trăm năm trước, cùng đường với phép Cửu Diệu mà người Việt dùng để xem sao hạn. Chiêm tinh với người Việt vì thế không hoàn toàn là đồ mới nhập.
Đọc cho đúng mức
Phần thiên văn của bài này là sự thật kiểm được: giờ Mặt Trời vào cung, sự trùng khớp với trung khí, chuyện múi giờ. Phần mô tả tính cách của từng cung thì khác. Chưa có nghiên cứu nghiêm túc nào cho thấy người sinh dưới một cung có nét tính cách khác biệt đo được so với người cung khác. Nghiên cứu lớn của Carlson công bố trên tạp chí Nature năm 1985, cho các nhà chiêm tinh ghép bản đồ sao với hồ sơ tính cách, cho kết quả không hơn đoán ngẫu nhiên.
Cũng nên biết: các mô tả cung trên mạng tiếng Việt phần lớn dịch từ cùng vài nguồn phổ thông, nên trông giống nhau và tạo cảm giác "nhiều nơi cùng nói". Chiêm tinh phương Tây cũng có nhiều phái (cổ điển, hiện đại, tâm lý) gán nghĩa khác nhau cho cùng một cung.
Dùng cung hoàng đạo như một ngôn ngữ để nói chuyện về tính cách, để tự hỏi mình có giống mô tả không, thì vô hại. Dùng nó để chọn người yêu, từ chối ứng viên hay đánh giá đồng nghiệp thì vượt quá sức của một phép chia mười hai.
Việc nên làm
- Nếu sinh giáp ranh, tìm lại giờ sinh trên giấy chứng sinh hoặc hỏi người nhà trước khi tin bất kỳ bảng nào.
- Khi gặp bảng cung trên mạng, xem nó tính theo giờ nào. Bảng không nói rõ giờ thì chỉ dùng cho người sinh xa ranh giới.
- Muốn tra nhanh, mở lịch tiết khí: ngày vào mười hai trung khí chính là ngày vào mười hai cung.
- Đọc mô tả cung của mình rồi đọc mô tả của hai cung bên cạnh; nếu thấy mình giống cả ba, đó là dấu hiệu mô tả viết đủ rộng để ai cũng thấy mình trong đó.
- Nếu muốn so với một hệ phương Đông dùng giờ sinh, lập lá số Tử Vi để thấy hai hệ đặt câu hỏi khác nhau thế nào.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Ptolemy — Tetrabiblos, quyển I, đoạn bàn điểm khởi của hoàng đạo (qua bản dịch, đại ý)
- Tú Diệu Kinh — Bất Không dịch, đời Đường (đại ý, theo các nghiên cứu lịch sử thiên văn)
- Shawn Carlson — "A double-blind test of astrology", tạp chí Nature, 1985
- Bảng giờ vào cung 1950 – 2030 tính bằng thư viện thiên văn Astronomy Engine; đối chiếu với hàm tiết khí của bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com
Câu hỏi thường gặp
12 cung hoàng đạo được chia theo cái gì?
Theo vị trí Mặt Trời trên hoàng đạo, đường biểu kiến Mặt Trời đi trong năm. Vòng 360 độ được chia đều thành mười hai đoạn 30 độ, bắt đầu từ điểm xuân phân.
Vì sao mỗi trang ghi ngày giáp ranh một khác?
Vì ngày Mặt Trời vào cung xê dịch một ngày tuỳ năm, và mỗi trang tính theo một múi giờ khác nhau. Bảng dịch từ nguồn nước ngoài thường tính theo giờ quốc tế, chậm hơn giờ Việt Nam bảy tiếng.
Sinh ngày 21/3 là cung gì?
Phụ thuộc năm và giờ sinh. Ví dụ năm 2026 cả ngày 21/3 là Bạch Dương, còn năm 2027 người sinh trước 03:24 sáng ngày 21/3 vẫn là Song Ngư.
Có tra cung hoàng đạo bằng lịch âm được không?
Không tra bằng ngày âm được, nhưng tra bằng tiết khí được. Mặt Trời vào mỗi cung đúng lúc lịch sang một trung khí như Xuân phân, Hạ chí, Thu phân, Đông chí.
Cung hoàng đạo có phải là chòm sao Mặt Trời đang đứng trước không?
Không còn trùng nữa. Cung được đo từ điểm xuân phân, còn chòm sao đã trôi lệch gần một cung do trục Trái Đất xoay chậm qua hơn hai nghìn năm.
Nguồn tham khảo: Ptolemy — Tetrabiblos — quyển I, đoạn bàn điểm khởi của hoàng đạo từ xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí · Tú Diệu Kinh — Bất Không dịch đời Đường — phần mười hai cung · Bảng giờ vào cung 1950 – 2030 tính bằng thư viện thiên văn Astronomy Engine, đối chiếu tiết khí của bộ máy âm lịch aihuyenhoc.com