Chu Công: người được gán lời hào và sách giải mộng, và những quẻ bói ông thật sự để lại trong Thượng Thư

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 12 phút đọc

Chu Công: người được gán lời hào và sách giải mộng, và những quẻ bói ông thật sự để lại trong Thượng Thư

Chu Công Đán là người thật, em Vũ Vương, nhiếp chính những năm đầu nhà Chu. Truyền thống gán cho ông lời hào Chu Dịch, sách Chu Lễ và cả sách giải mộng; các gán ghép ấy đều không đứng vững. Nhưng Thượng Thư có chép những quẻ bói chính ông dùng: bói rùa trước khi đông chinh, bói chọn đất xây Lạc Ấp.

Trong số các nhân vật mà huyền học nhận làm tổ, Chu Công có một vị trí lạ. Ông là người có nhiều lời nói được chép lại nhất trong văn bản đầu nhà Chu, nhiều hơn cả Văn Vương. Nhưng những thứ dân gian gắn với tên ông, "Chu Công giải mộng", "lời hào của Chu Công", lại là phần yếu nhất về chứng cứ. Bài này làm một việc ngược với thói quen: gác các gán ghép sang một bên trước, rồi tìm xem trong văn bản thật, Chu Công đã dùng bói thế nào.

Người thật: em vua, nhiếp chính, và người trả lại ngôi

Sử Ký, Lỗ Chu Công thế gia kể đại ý: Chu Công tên Đán, em Vũ Vương, con Văn Vương. Ông giúp anh diệt nhà Thương. Vũ Vương mất ít năm sau, con là Thành Vương còn nhỏ, Chu Công đứng ra nhiếp chính. Các em ông là Quản Thúc, Thái Thúc cùng Vũ Canh, con vua Trụ, nổi dậy ở phía đông, phao tin ông muốn cướp ngôi. Ông đem quân đông chinh ba năm, dẹp yên, rồi xây thành Lạc Ấp làm kinh đô phía đông, đặt lễ nhạc, và khi Thành Vương lớn thì trả lại chính sự.

Đất phong của ông là đất Chu, nên gọi Chu Công; con trưởng ông là Bá Cầm được phong ở nước Lỗ. Chi tiết nhỏ này về sau rất quan trọng cho lịch sử Kinh Dịch, như sẽ thấy ở dưới.

Ngoài Sử Ký, người đọc hôm nay còn có trong tay chính lời ông. Nhiều thiên trong phần Kim văn Thượng Thư, như Đại Cáo, Khang Cáo, Tửu Cáo, Lạc Cáo, Đa Sĩ, Vô Dật, được học giới coi là văn bản đầu Tây Chu, ghi lời Chu Công hoặc lời vua do ông thảo. Đây là thứ văn trúc trắc, cổ hơn Luận Ngữ năm trăm năm, và là nguồn tốt nhất để biết ông nghĩ gì.

Quẻ thứ nhất: con rùa lớn của Văn Vương và cuộc đông chinh

Thiên Đại Cáo là bài hiệu triệu trước khi đánh dẹp cuộc nổi loạn ở phương đông. Các chư hầu, các quan đều ngần ngại: việc khó, dân không yên, lại là đánh người trong họ. Lời vua trong Đại Cáo đáp lại bằng một lý lẽ lặp đi lặp lại: con rùa lớn quý báu mà tiên vương để lại đã được dùng để bói, và quẻ đều tốt. Câu "Ninh Vương di ngã đại bảo quy", Văn Vương để lại cho ta con rùa lớn quý báu, được nhắc như bằng chứng rằng mệnh trời đứng về phía nhà Chu. Đại ý: các ngươi nói khó, nhưng ta bói đều tốt, ta không dám trái mệnh trời.

Người nói trong Đại Cáo xưng "vương"; các học giả còn tranh luận đó là Thành Vương hay Chu Công đang nhiếp chính nói thay. Dù thế nào, văn bản cho thấy một điều rất rõ: ở triều Chu thời Chu Công, bói rùa là một công cụ chính trị. Nó không chỉ để biết điều chưa biết, mà để cho cả triều đình một lý do chung mà theo, khi lý lẽ thường không đủ thuyết phục.

Đặt cạnh chuyện Khương Tử Nha trước trận Mục Dã thì thú vị. Ở đó quẻ xấu bị gạt đi để tiến quân; ở đây quẻ tốt được đưa ra để tiến quân. Hai vị khai quốc của nhà Chu dùng bói theo hai chiều ngược nhau nhưng cùng một mục đích. Người đọc nên rút ra bài học về ai đang cầm quẻ, và cầm để làm gì.

Quẻ thứ hai: bói chọn đất Lạc Ấp, kèm một tấm bản đồ

Thiên Lạc Cáo ghi việc Chu Công báo với Thành Vương về chỗ đặt kinh đô mới. Lời ông:

Ngã bốc Hà Sóc Lê thủy; ngã nãi bốc Giản thủy đông, Triền thủy tây, duy Lạc thực.

Tôi bói vùng sông Lê phía bắc sông Hoàng Hà; rồi tôi bói vùng phía đông sông Giản, phía tây sông Triền, chỉ có đất Lạc là ăn quẻ.

Rồi ông bói thêm vùng phía đông sông Triền, cũng chỉ đất Lạc ăn quẻ, và sai người đem bản đồ cùng kết quả bói về dâng vua.

Đoạn văn ngắn này có giá trị lớn với lịch sử nghề xem đất, lớn hơn mọi truyền thuyết. Nó cho thấy, từ đầu nhà Chu:

  • Việc chọn đất xây thành đi theo nhiều phương án cụ thể, gọi tên bằng sông: phía bắc Hoàng Hà, giữa hai sông Giản và Triền, phía đông sông Triền.
  • Mỗi phương án được bói riêng; "thực" (ăn) là chữ chỉ vết nứt trên mai rùa ăn vào nét mực đã vạch, tức quẻ thuận.
  • Kết quả bói đi kèm một tấm bản đồ gửi về triều.

Tức là, hơn hai nghìn năm trước khi có sách phong thủy, người Chu đã chọn đất bằng một quy trình có khảo sát địa hình, có bản đồ, và có bói để quyết giữa các phương án. Thiên Thiệu Cáo đi kèm còn kể Thái Bảo Thiệu Công tới trước, "bốc trạch", bói chỗ ở, rồi mới đo đạc nền móng. Bài kham dư là gì kể nghề xem đất về sau đi từ phép chọn ngày sang phép xem đất; Lạc Cáo cho thấy ở thời Chu Công, hai việc ấy đã đứng cạnh nhau.

Quẻ thứ ba: Kim Đằng, chiếc hộp niêm kín

Thiên Kim Đằng kể một chuyện cảm động hơn. Vũ Vương ốm nặng sau khi diệt Thương. Chu Công lập đàn, khấn ba vị tiên vương, xin được thay anh mà đi, rồi bói ba con rùa, đều tốt. Ông cất lời khấn vào một chiếc hộp niêm bằng dây kim loại ("kim đằng"). Vũ Vương khỏi bệnh. Nhiều năm sau, khi Thành Vương nghi ngờ Chu Công, trời nổi giông bão, lúa đổ cây bật; vua mở hộp, đọc lời khấn, hiểu lòng chú mình, bão bèn tan.

Thiên này không cùng loại với Đại Cáo, Lạc Cáo. Phần kết có màu truyền kỳ rõ rệt, và nhiều học giả cho rằng nó được soạn muộn hơn, có lẽ cuối Tây Chu hay sau nữa. Bộ thẻ tre thời Chiến Quốc mà Đại học Thanh Hoa nhận năm 2008 có một bản tương ứng, cho thấy chuyện đã lưu hành từ thời Chiến Quốc. Kim Đằng là nguồn gốc của hình ảnh Chu Công như người biết bói, biết cầu đảo, cái nền để đời sau gán thêm những thứ khác cho ông.

Lời hào: vì sao lại là Chu Công

Thuyết "Văn Vương làm lời quẻ, Chu Công làm lời hào" được các nhà chú giải đời Hán như Mã Dung, Lục Tích đưa ra, Khổng Dĩnh Đạt đời Đường chép lại. Lý do họ nêu: lời hào nhắc những việc xảy ra sau thời Văn Vương, nên phải có một người đời sau viết, và người ấy hợp nhất là con ông. Những bằng chứng ngược, như lời hào nhắc Khang Hầu mà Cố Hiệt Cương nhận ra, đã được bàn ở bài Chu Văn Vương; bài Kinh Dịch là gì cũng chỉ ra Hán Thư nói "ba thánh", chưa có Chu Công.

Ở đây chỉ thêm một mắt xích ít được nói: nước Lỗ. Tả Truyện, Chiêu Công năm thứ hai, kể Hàn Tuyên Tử nước Tấn sang Lỗ, xem sách ở chỗ quan Thái sử, thấy Dịch Tượng và Lỗ Xuân Thu, than đại ý: lễ nhà Chu nay ở cả nước Lỗ. Lỗ là nước của dòng con Chu Công, giữ nhiều điển tịch nhà Chu nhất. Khổng Tử là người Lỗ. Truyền thống học Dịch mà Sử Ký kể, từ Khổng Tử qua Thương Cù truyền xuống, cũng xuất phát từ Lỗ. Khi người đời Hán cần một tác giả cho lời hào, một người vừa là con Văn Vương, vừa là tổ của nước giữ sách Dịch, vừa có tiếng biết bói trong Kim Đằng, là lựa chọn gần như tự nhiên.

Nói cách khác, việc gán lời hào cho Chu Công có lý do, nhưng lý do ấy là lý do của người biên soạn đời sau, không phải chứng cứ rằng ông viết.

Chu Lễ và Chu Công giải mộng: hai cuốn sách mượn tên

Chu Lễ là bộ sách mô tả quan chế nhà Chu, truyền thống cho là Chu Công soạn. Trong phần Xuân Quan, quan Thái Bốc giữ ba phép Dịch: Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch, đại ý: quẻ gốc đều tám, quẻ chồng đều sáu mươi tư (bài Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch). Cũng ở phần này có quan Chiêm Mộng với sáu loại mộng. Học giới hiện nay phần đông xếp Chu Lễ vào khoảng Chiến Quốc, có thể có phần sửa đời Hán; nó là bản thiết kế lý tưởng của một nhà nước, không phải biên bản quan chế thời Chu Công.

Chu Công giải mộng là tên chung của các sách đoán mộng dân gian. Cái tên đến từ câu Khổng Tử than đã lâu không còn mơ thấy Chu Công; các bản cổ nhất còn lại là bản chép tay ở Đôn Hoàng đời Đường. Toàn bộ câu chuyện đã có ở bài giải mộng theo sách cổ.

Việt Thường dâng chim trĩ và chiếc xe chỉ nam

Với người Việt, Chu Công còn gắn với một chuyện xưa mà sử Việt hay nhắc. Hậu Hán Thư, phần Nam Man liệt truyện, chép đại ý: phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường; năm thứ sáu Chu Công nhiếp chính, chế lễ làm nhạc, thiên hạ hòa bình, Việt Thường qua ba lần thông dịch tới dâng chim trĩ trắng. Sách Cổ Kim Chú đời Tấn kể thêm, đại ý: sứ Việt Thường lạc đường về, Chu Công làm xe chỉ nam để đưa họ về.

Chuyện này hay được nhắc khi nói về lịch sử la bàn, nhưng nên đọc kỹ. Xe chỉ nam trong sử Trung Hoa là xe cơ khí: một hình người trên xe luôn chỉ tay về một hướng nhờ hệ bánh răng, không dùng nam châm. Người được sử ghi là chế được xe này là Mã Quân thời Tam Quốc; chuyện Chu Công làm xe là truyền thuyết đặt lên vị thánh đặt lễ. Còn chuyện Việt Thường dâng trĩ trắng là ghi chép đời Hán về một thời xa hơn nghìn năm trước, mang nhiều màu sắc của quan niệm "đức vua thịnh thì người phương xa tới chầu". Bài lịch sử la bàn bàn phần kim nam châm.

Bảng tổng hợp: gán và thật

Điều gắn với Chu CôngNguồnMức tin
nhiếp chính, đông chinh, xây Lạc ẤpSử Ký, Thượng Thưchắc
lời trong Đại Cáo, Lạc Cáo, Đa Sĩ, Vô DậtKim văn Thượng Thưvăn bản đầu Tây Chu, được coi là đáng tin
bói rùa trước đông chinh, bói chọn đất LạcĐại Cáo, Lạc Cáo, Thiệu Cáođáng tin
xin thay Vũ Vương mà đi, hộp kim đằngKim Đằngtruyện cổ, soạn muộn hơn
làm lời hào Chu Dịchthuyết Mã Dung, Lục Tích đời Hántruyền thống, chứng cứ ngược mạnh
soạn Chu Lễtruyền thốngsách thời Chiến Quốc, có thể có phần đời Hán
Chu Công giải mộngtên mượn từ câu Luận Ngữsách dân gian, bản cổ nhất đời Đường
làm xe chỉ nam cho sứ Việt ThườngCổ Kim Chú đời Tấntruyền thuyết

Sách cổ nói gì

Ngã bốc Hà Sóc Lê thủy; ngã nãi bốc Giản thủy đông, Triền thủy tây, duy Lạc thực.

Dịch: Tôi bói vùng sông Lê phía bắc sông Hoàng Hà; rồi tôi bói vùng phía đông sông Giản, phía tây sông Triền, chỉ có đất Lạc là ăn quẻ. — Thượng Thư, Lạc Cáo

Bình: Đây có lẽ là ghi chép cổ nhất còn lại về việc một người có tên tuổi dùng bói để chọn đất xây dựng. Điều đáng học không phải "quẻ đã chọn đúng", mà là quy trình: nhiều phương án gọi tên rõ ràng, khảo sát bằng bản đồ, bói từng phương án, báo cáo cả bản đồ lẫn kết quả lên người quyết định. Bói ở đây là bước cuối của một quá trình lựa chọn có lý trí, không thay cho quá trình ấy.

Đọc cho đúng mức

Chu Công là một trong những nhân vật có chứng cứ tốt nhất của huyền học cổ: người thật, có lời nói còn lại, có những lần bói được ghi bằng văn bản gần thời ông.

Nhưng những gì dân gian nhớ về ông lại là phần gán. Lời hào, Chu Lễ, sách giải mộng đều mượn tên ông, vì những lý do có thể giải thích được: ông là con Văn Vương, tổ nước Lỗ, người đặt lễ nhạc, người có tiếng biết bói.

Cách ông dùng bói đáng suy nghĩ hơn cách người sau dùng tên ông. Trong Đại Cáo, bói là lý lẽ để đoàn kết triều đình; trong Lạc Cáo, bói là bước chốt sau khảo sát. Cả hai đều cho thấy bói nằm trong việc trị nước, không đứng ngoài nó.

Việc nên làm

  1. Đọc thiên Lạc Cáo và Thiệu Cáo trong một bản dịch Thượng Thư; hai thiên ngắn, là tư liệu gốc tốt nhất về chọn đất thời cổ.
  2. Khi nghe "theo Chu Công giải mộng thì…", nhớ rằng đó là sách dân gian mượn tên, không phải lời của ông.
  3. Nếu bạn chọn đất làm nhà, làm theo trình tự của Lạc Cáo: liệt kê vài phương án cụ thể, xem kỹ từng nơi trên bản đồ và tại chỗ, rồi mới cân nhắc các yếu tố khác.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Thượng Thư: Lạc Cáo (nguyên văn câu bói chọn đất), Đại Cáo (đại ý, câu về con rùa lớn của tiên vương), Thiệu Cáo (đại ý), Kim Đằng (đại ý).
  • Tư Mã Thiên, Sử Ký, Lỗ Chu Công thế gia (đại ý).
  • Tả Truyện, Chiêu Công năm 2: Hàn Tuyên Tử xem sách ở nước Lỗ (đại ý).
  • Chu Lễ, Xuân Quan: quan Thái Bốc giữ ba phép Dịch; quan Chiêm Mộng (đại ý).
  • Phạm Diệp, Hậu Hán Thư, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện: đoạn Việt Thường dâng chim trĩ trắng (đại ý); Thôi Báo, Cổ Kim Chú: chuyện xe chỉ nam (đại ý).
  • Khổng Dĩnh Đạt, Chu Dịch Chính Nghĩa: thuyết Mã Dung, Lục Tích về lời hào (đại ý).
  • Bộ thẻ tre Thanh Hoa (Đại học Thanh Hoa nhận năm 2008): bản tương ứng thiên Kim Đằng (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Chu Công là ai?

Chu Công Đán là con Văn Vương, em Vũ Vương nhà Chu. Ông nhiếp chính khi Thành Vương còn nhỏ, dẹp loạn phương đông, xây Lạc Ấp, đặt lễ nhạc rồi trả lại chính sự cho vua.

Chu Công có viết lời hào Kinh Dịch không?

Đó là thuyết của các nhà chú giải đời Hán như Mã Dung, Lục Tích. Lời hào nhắc những việc có thể xảy ra sau ông, và Hán Thư chỉ nói "ba thánh" làm Dịch, nên học giới hiện nay coi đây là truyền thống, không phải sự thật đã xác nhận.

"Chu Công giải mộng" có phải sách của Chu Công không?

Không. Tên sách mượn từ câu Khổng Tử than lâu không mơ thấy Chu Công. Các bản cổ nhất còn lại là bản chép tay ở Đôn Hoàng đời Đường.

Chu Công có dùng bói không?

Có. Thượng Thư chép trong Đại Cáo việc bói rùa trước khi đông chinh và trong Lạc Cáo việc bói từng phương án để chọn đất xây Lạc Ấp, kèm bản đồ gửi vua.

Chuyện Chu Công làm xe chỉ nam cho sứ Việt Thường có thật không?

Hậu Hán Thư chép chuyện Việt Thường dâng chim trĩ trắng thời Chu Công; chuyện ông làm xe chỉ nam do sách Cổ Kim Chú đời Tấn kể, là truyền thuyết. Xe chỉ nam là xe cơ khí dùng bánh răng, không phải la bàn nam châm.

Nguồn tham khảo: Thượng Thư — các thiên Lạc Cáo, Đại Cáo, Kim Đằng · Sử Ký — Tư Mã Thiên — Lỗ Chu Công thế gia · Tả Truyện — Chiêu Công năm 2, Hàn Tuyên Tử sang Lỗ · Chu Lễ — Xuân Quan, Thái Bốc · Hậu Hán Thư — Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, đoạn Việt Thường · Chu Dịch Chính Nghĩa — Khổng Dĩnh Đạt — phần luận ai làm lời quẻ, lời hào

Dương Quân Tùng: mở ba cuốn sách gắn tên ông, Hám Long Kinh, Nghi Long Kinh, Táng Pháp Đảo TrượngDương Quân Tùng là ai và ba sách gắn tên ông viết gì: Hám Long Kinh đọc núi, Nghi Long Kinh hỏi chỗ ngờ, Đảo Trượng mười hai cách…
Quách Thủ Kính và lịch Thụ Thời: năm dài 365,2425 ngày đo từ đài quan sát đời NguyênQuách Thủ Kính và lịch Thụ Thời 1281: năm dài 365,2425 ngày, trùng lịch Gregorius ba thế kỷ sau; cột đo bóng cao bốn trượng và lị…
Vương Bật quét tượng số: chàng trai hai mươi ba tuổi đổi hẳn cách đọc Kinh DịchVương Bật chú Chu Dịch, viết Chu Dịch Lược Lệ với câu được ý quên tượng, gạt bớt tượng số đời Hán để đọc Dịch bằng nghĩa lý; bản …
Quỷ Cốc Tử: thầy của Tô Tần, Trương Nghi và các sách gắn tên ôngQuỷ Cốc Tử là ai: Sử Ký chỉ chép ông dạy Tô Tần, Trương Nghi; sách Quỷ Cốc Tử bàn du thuyết, còn các phép toán mệnh mang tên ông …
Lưu Bá Ôn: quân sư nhà Minh, Thiêu Bính Ca và những cuốn sách gắn tên ôngLưu Bá Ôn là ai: Lưu Cơ, khai quốc công thần nhà Minh, tinh thiên văn theo Minh Sử. Thiêu Bính Ca là văn bản đời sau; Trích Thiên…
Chu Văn Vương và Kinh Dịch: chuyện diễn quẻ trong ngục Dữu Lý, sử chép gì và chép đến đâuChu Văn Vương có diễn Kinh Dịch trong ngục Dữu Lý không: Sử Ký chép bằng chữ 'có lẽ', Hệ Từ đặt thành câu hỏi, lời hào lại nhắc n…