Quẻ có hai đến sáu hào động đọc thế nào: quy tắc của Chu Hy trong Dịch Học Khải Mông

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Quẻ có hai đến sáu hào động đọc thế nào: quy tắc của Chu Hy trong Dịch Học Khải Mông

Quẻ nhiều hào động đọc theo quy tắc Chu Hy trong Dịch Học Khải Mông: hai hào động đọc hai hào ấy, hào trên làm chủ; ba hào đọc lời quẻ chính và quẻ biến; bốn hào đọc hai hào không động của quẻ biến, hào dưới làm chủ; năm hào đọc hào đứng yên của quẻ biến; sáu hào đọc lời quẻ biến. Đây là một lối, không duy nhất.

Bài này đặt đủ bảy trường hợp vào một bảng, cho biết mỗi trường hợp hay gặp đến đâu, rồi đối chiếu với những lần bói thật được sử cũ chép lại, kể cả một lần người xưa không theo quy tắc ấy.

Bảng bảy trường hợp

Số hào độngĐọc lời nàoChủ ở đâu
0Lời quẻ (thoán từ) của quẻ chínhNội quái là "trinh", ngoại quái là "hối"
1Lời của hào động trong quẻ chínhChính hào ấy
2Lời của hai hào động trong quẻ chínhHào trên làm chủ
3Lời quẻ của quẻ chính và lời quẻ của quẻ biếnQuẻ chính là "trinh", quẻ biến là "hối"
4Lời của hai hào không động trong quẻ biếnHào dưới làm chủ
5Lời của hào không động duy nhất trong quẻ biếnChính hào ấy
6Càn, Khôn: đọc lời "dụng cửu", "dụng lục". Quẻ khác: lời quẻ của quẻ biến

"Trinh" và "hối" là hai chữ cổ chỉ phần gốc, phần đang có (trinh) và phần sau, phần đi tới (hối). Với trường hợp ba hào động, Khải Mông còn chia nhỏ: trong hai mươi cách ba hào cùng động, mười cách đầu nghiêng về quẻ chính, mười cách sau nghiêng về quẻ biến. Người tự gieo thường chỉ cần nhớ: ba hào là lúc việc đứng giữa hai tình thế, nên đọc cả hai lời quẻ.

Nhìn tổng thể, bảng có một logic dễ nhớ. Ít hào động, việc còn nằm trong quẻ chính, nên đọc quẻ chính. Nhiều hào động, việc đã nghiêng sang quẻ biến, nên đọc quẻ biến. Và ở mỗi bên, chỗ đáng đọc là chỗ ít: hai hào động thì đọc chính hai hào ấy; bốn hào động thì hai hào đứng yên mới là cái hiếm, đọc chúng. Đó cũng là nguyên tắc "cái ít làm chủ" đã gặp khi định tính tám quẻ đơn và khi quy đổi đồng xu, xem bài gieo quẻ bằng ba đồng xu.

Mỗi trường hợp hay gặp đến đâu

Ở cả phép cỏ thi lẫn phép ba đồng xu, mỗi hào có khả năng động là 1/4. Sáu hào gieo độc lập, nên số hào động trong một quẻ phân bố như sau:

Số hào độngKhả năngCứ khoảng bao nhiêu lần gieo gặp một lần
0729/4096 ≈ 17,8%6
11458/4096 ≈ 35,6%3
21215/4096 ≈ 29,7%3
3540/4096 ≈ 13,2%8
4135/4096 ≈ 3,3%30
518/4096 ≈ 0,44%228
61/4096 ≈ 0,02%4.096

Hai điều thực tế rút ra. Thứ nhất, gần hai phần ba số lần gieo có một hoặc hai hào động, nên quy tắc cho trường hợp 1 và 2 là thứ bạn dùng nhiều nhất. Thứ hai, quẻ bốn hào động trở lên hiếm thật; gặp nó thường xuyên thì nên kiểm lại cách quy đổi đồng xu, rất có thể bạn đang đánh dấu nhầm thiếu dương, thiếu âm thành hào động.

Ví dụ từng trường hợp

Một hào: Tất Vạn gặp Truân biến Tỷ. Tả Truyện, Mẫn Công năm 1, chép Tất Vạn bói việc ra làm quan nước Tấn, gặp quẻ Truân, hào sơ động, biến thành Tỷ. Lời bàn của người giải quẻ, đại ý: Truân là bền chắc, Tỷ là vào được, còn gì tốt hơn. Một hào động thì đọc chính hào ấy: sơ cửu quẻ Truân, "bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu", dùng dằng, lợi giữ chính, lợi dựng chư hầu.

Hai hào: Ích biến Tổn. Ví dụ đã đi trọn ở bài ba đồng xu: hào hai và hào năm quẻ Ích động, đọc cả hai, lấy cửu ngũ "hữu phu huệ tâm" làm chủ.

Ba hào: Trùng Nhĩ được "trinh Truân hối Dự". Quốc Ngữ, Tấn ngữ, chép công tử Trùng Nhĩ đang lưu vong tự bói xem có về được nước không. Quẻ chính là Truân, quẻ biến là Dự, ba hào động (hào sơ, hào bốn, hào năm). Các quan bói đều nói không tốt. Tư Không Quý Tử thì nói tốt, và lý do ông đưa ra, đại ý, là lời quẻ của cả hai quẻ đều có "lợi kiến hầu": Truân "nguyên hanh lợi trinh, vật dụng hữu du vãng, lợi kiến hầu"; Dự "lợi kiến hầu hành sư". Quý Tử đọc đúng cách mà nhiều thế kỷ sau Chu Hy ghi thành quy tắc cho ba hào động: đọc lời quẻ chính và quẻ biến. Trùng Nhĩ về sau về nước, thành Tấn Văn Công. Câu chép trong Quốc Ngữ còn có hai chữ "giai bát" (đều là tám) mà các nhà chú giải đến nay vẫn giảng khác nhau.

Bốn hào: Đồng Nhân biến Khiêm. Giả sử gieo ra Đồng Nhân, hào một, bốn, năm, sáu động. Đổi bốn hào ấy được Khiêm. Hai hào không động là hào hai và hào ba; đọc chúng trong quẻ Khiêm, lấy hào dưới làm chủ:

  • Lục nhị: "Minh khiêm, trinh cát", khiêm mà tiếng khiêm vang ra, giữ chính thì tốt. Đây là hào chủ.
  • Cửu tam: "Lao khiêm, quân tử hữu chung, cát", có công lao mà vẫn khiêm, người quân tử giữ được đến cuối, tốt.

Đọc vào việc: bốn hào động cho thấy tình thế đang chuyển từ "cùng người làm chung" (Đồng Nhân) sang "lùi một bước" (Khiêm). Hào chủ nói cách đi: để việc tự lên tiếng thay cho mình.

Năm hào: Mục Khương gặp Cấn biến Tuỳ. Tả Truyện, Tương Công năm 9, chép Mục Khương, mẹ của Lỗ Thành Công, bị giam ở Đông cung vì dính vào một cuộc mưu biến. Bà bói, gặp Cấn, năm hào động, biến thành Tuỳ; quan bói mừng, bảo Tuỳ là "ra", bà sắp được ra. Mục Khương không nhận. Bà đọc lời quẻ Tuỳ, "nguyên hanh lợi trinh, vô cữu", rồi giảng bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh là bốn đức, bà tự xét không có đức nào, nên lời quẻ tốt ấy không phải nói với mình; bà biết mình sẽ không ra được.

Theo quy tắc Chu Hy, năm hào động phải đọc hào không động của quẻ biến, tức lục nhị quẻ Tuỳ: "hệ tiểu tử, thất trượng phu", buộc vào kẻ nhỏ, mất người trượng phu. Câu ấy khớp với hoàn cảnh bà một cách lạ lùng, nhưng bà không đọc nó. Mục Khương đọc lời quẻ biến, như trường hợp sáu hào. Chuyện này cho thấy hai điều: thời Xuân Thu chưa có quy tắc cố định như Khải Mông; và người đọc giỏi đặt đức của người hỏi lên trên chữ tốt xấu của quẻ.

Sáu hào: Càn biến Khôn. Riêng Càn và Khôn có thêm lời "dụng cửu" và "dụng lục" cho trường hợp sáu hào cùng động. Càn: "kiến quần long vô thủ, cát", thấy bầy rồng không con nào đứng đầu, tốt. Khôn: "lợi vĩnh trinh", lợi giữ chính lâu dài. Bàn kỹ ở bài dụng cửu, dụng lục.

Vì sao chỉ là một lối

Chu Hy soạn Khải Mông khoảng năm 1186, có Thái Nguyên Định góp sức, với mục đích khôi phục phép bói cỏ thi đã thất truyền. Quy tắc đọc hào động của ông suy từ các lần bói trong Tả Truyện, Quốc Ngữ, nhưng như chuyện Mục Khương cho thấy, sử cũ không phải lúc nào cũng khớp. Ông cũng không giải thích dài vì sao hai hào thì lấy hào trên, bốn hào thì lấy hào dưới.

Các lối khác đang được dùng:

  • Lục Hào không đọc lời hào. Hào động được xét theo ngũ hành: nó sinh hay khắc dụng thần. Nhiều hào động cùng lúc có tên riêng là "loạn động" và có cách xử riêng.
  • Mai Hoa lập quẻ theo số nên mỗi quẻ chỉ có một hào động; vấn đề nhiều hào động không đặt ra. Xem Mai Hoa Dịch Số là gì.
  • Một số người đọc nghĩa lý hiện nay đọc tất cả hào động từ dưới lên như các chặng của một câu chuyện, rồi đọc quẻ biến như kết. Cách này nhiều chữ hơn, dễ lạc hơn, nhưng có người thấy hợp.

Chọn lối nào cũng được, miễn chọn trước khi gieo và giữ nguyên. Đổi lối sau khi thấy quẻ để tìm câu dễ nghe là một dạng của gieo lại quẻ.

Sách cổ nói gì

Khải Mông, thiên Khảo biến chiêm, ghi quy tắc thành một đoạn liền, đại ý theo đúng thứ tự trong bảng trên: sáu hào đều không đổi thì xem lời quẻ của quẻ chính, nội quái làm trinh, ngoại quái làm hối; một hào đổi thì xem lời hào đổi; hai hào đổi thì xem lời hai hào đổi, lấy hào trên làm chủ; ba hào đổi thì xem lời quẻ của quẻ chính và quẻ biến, quẻ chính làm trinh, quẻ biến làm hối; bốn hào đổi thì xem hai hào không đổi của quẻ biến, lấy hào dưới làm chủ; năm hào đổi thì xem hào không đổi của quẻ biến; sáu hào đổi thì Càn Khôn xem lời "dụng", các quẻ khác xem lời quẻ của quẻ biến. — Chu Hy, Dịch Học Khải Mông, Khảo biến chiêm (dẫn đại ý)

Tuỳ: nguyên hanh lợi trinh, vô cữu.

Tuỳ: rất hanh thông, lợi giữ chính, không lỗi. — Chu Dịch, lời quẻ Tuỳ, câu Mục Khương đọc

Bình: cùng một lần gieo, quy tắc Chu Hy chỉ vào lời hào "mất người trượng phu", còn Mục Khương chọn lời quẻ có bốn chữ đẹp rồi tự nói mình không xứng. Quy tắc giúp người mới khỏi lạc giữa nhiều lời; nó không thay được cái nhìn thẳng vào mình.

Đọc cho đúng mức

Quy tắc trong bảng là của Chu Hy, phổ biến nhất trong các sách Dịch tiếng Việt và tiếng Hán đời sau, nhưng không có trong bản thân Kinh Dịch. Các ví dụ Tả Truyện, Quốc Ngữ ở trên dẫn theo đại ý; chi tiết về hào nào động là suy ra từ hai quẻ được chép, chữ "giai bát" và "Cấn chi bát" đến nay còn nhiều cách giảng.

Quẻ nhiều hào động không "mạnh" hơn, cũng không "xấu" hơn quẻ ít hào động. Nó chỉ cho biết tình thế đang ở giữa đường chuyển, và chỗ đáng đọc dời từ quẻ chính sang quẻ biến.

Việc nên làm

  • Trước khi gieo, chọn một lối đọc hào động và ghi vào đầu sổ; người mới nên dùng bảng của Chu Hy.
  • Khi ra quẻ, đếm số hào động trước tiên, rồi tra bảng xem cần đọc lời nào, đừng đọc tràn lan.
  • Gặp bốn hào động trở lên, kiểm lại cách quy đổi đồng xu trước khi đọc.
  • Với ba hào động, viết hai dòng riêng: quẻ chính nói tình thế đang có, quẻ biến nói tình thế đang tới.
  • Nắm hào vị để hiểu vì sao một hào nói được điều nó nói.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Hy, Dịch Học Khải Mông, thiên Khảo biến chiêm (dẫn đại ý quy tắc bảy trường hợp).
  • Quốc Ngữ, Tấn ngữ: Trùng Nhĩ bói được trinh Truân hối Dự, lời Tư Không Quý Tử (dẫn đại ý).
  • Tả Truyện, Mẫn Công năm 1 (Tất Vạn) và Tương Công năm 9 (Mục Khương) (dẫn đại ý).
  • Chu Dịch: lời quẻ Truân, Dự, Tuỳ; hào sơ cửu Truân; hào lục nhị, cửu tam Khiêm; dụng cửu Càn, dụng lục Khôn (trích nguyên văn).

Câu hỏi thường gặp

Quẻ không có hào động thì đọc thế nào?

Đọc lời quẻ (thoán từ) và lời Đại Tượng của quẻ chính. Không có quẻ biến. Theo Chu Hy, quẻ đơn dưới là phần gốc, quẻ đơn trên là phần sắp tới.

Hai hào động sao lại lấy hào trên làm chủ?

Đó là quy định của Chu Hy trong Khải Mông, ông không giảng dài. Cách hiểu thường gặp là hào trên đi xa hơn trong tiến trình của quẻ nên nói về chỗ việc đang hướng tới.

Bốn hào động sao lại đọc hào không động?

Vì khi bốn hào đã đổi, tình thế đã nghiêng hẳn sang quẻ biến, và hai hào đứng yên là cái hiếm trong quẻ ấy. Nguyên tắc chung là đọc chỗ ít.

Sáu hào cùng động có phải điềm lạ không?

Khả năng chỉ khoảng một trên bốn nghìn lần gieo, nên hiếm, nhưng không phải điềm. Với Càn, Khôn thì đọc lời dụng cửu, dụng lục; quẻ khác đọc lời quẻ biến.

Lục Hào có dùng quy tắc này không?

Không. Lục Hào xét hào động theo ngũ hành sinh khắc với dụng thần, gần như không đọc lời hào. Quy tắc Chu Hy dành cho lối đọc lời quẻ, lời hào.

Nguồn tham khảo: Dịch Học Khải Mông — Chu Hy — thiên Khảo biến chiêm · Quốc Ngữ — Tấn ngữ — Trùng Nhĩ bói được trinh Truân hối Dự · Tả Truyện — Mẫn Công năm 1: Tất Vạn gặp Truân biến Tỷ; Tương Công năm 9: Mục Khương gặp Cấn biến Tuỳ · Chu Dịch — quẻ Truân, Dự, Tuỳ, Khiêm, Đồng Nhân — lời quẻ, lời hào

Quẻ biến (chi quái) đọc thế nào: quẻ gốc là hiện tại, quẻ biến là hướng điQuẻ biến (chi quái) là quẻ có được khi đổi các hào động: cách người Xuân Thu gọi "ngộ Quan chi Bĩ", ví dụ Càn hào một động thành …
Gieo quẻ vào lúc nào: tĩnh tâm, có kiêng giờ không, và chuyện "không hỏi khi say, khi giận"Giờ gieo quẻ: sách cổ không kiêng giờ mà kiêng lòng người hỏi; giờ chỉ là con số trong Mai Hoa và Lục Hào; vì sao không gieo khi …
Gieo quẻ đầu năm: tục xin quẻ năm mới và cách thu câu hỏi "cả năm" về một việcGieo quẻ đầu năm: vì sao câu "năm nay thế nào" quá rộng, quẻ Mai Hoa giờ Tết 2027 ai gieo cũng ra như nhau, năm mẫu câu hẹp và cá…
Bốn con số 6, 7, 8, 9: vì sao hào dương gọi là Cửu, hào âm gọi là LụcVì sao hào dương gọi Cửu, hào âm gọi Lục: gốc 6, 7, 8, 9 từ phép đếm cỏ thi, câu tham thiên lưỡng địa, bảng tên đủ mười hai hào, …
Giải quẻ Kinh Dịch cho việc của mình: chuyển lời cổ sang câu hỏi hôm nay qua năm ví dụGiải quẻ Kinh Dịch cho việc của mình qua bốn tầng chữ, tượng, ý, việc; năm ví dụ đọc một hào cho việc học, việc làm, việc nhà, tr…
Gieo quẻ trên mạng có "linh" không: ngẫu nhiên, thành tâm và cách dùng hợp lýGieo quẻ online có linh không? Nói thẳng về bộ tạo số ngẫu nhiên, đồng xu tung tay lệch bao nhiêu, bốn kiểu công cụ gieo trên mạn…