Quẻ Trạch Thủy Khốn (47): cùng quẫn mà không mất chỗ thông
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Cùng quẫn; nói không ai tin, giữ được chí thì vẫn thông.
Trạch Thủy Khốn là quẻ thứ 47, Đoài (đầm) ở trên, Khảm (nước) ở dưới: nước rỉ hết xuống dưới, đầm cạn khô. Khốn là cùng quẫn, bị vây. Lạ là lời quẻ vẫn có chữ "hanh": người lớn giữ chính thì tốt, không lỗi; chỉ có điều nói ra thì người không tin. Quẻ dạy cách đi qua lúc cạn kiệt mà không cạn chí.
Tượng quẻ: đầm không còn nước
Đầm là chỗ chứa nước; nước lại nằm dưới đầm, nghĩa là đã thoát hết. Hình ảnh đơn giản mà rõ: nguồn đã cạn.
Thoán truyện gọi đúng cấu trúc của nó: "Khốn, cương yểm dã", cái cứng bị che lấp. Hào cửu nhị bị hai hào âm kẹp trên dưới; cửu tứ, cửu ngũ bị hào thượng lục đè lên. Người có thực lực mà bị bủa vây, không thi thố được.
Lời quẻ và Thoán truyện
Lời quẻ: "Khốn, hanh, trinh, đại nhân cát, vô cữu; hữu ngôn bất tín." Thoán truyện giải: "Hiểm dĩ duyệt, khốn nhi bất thất kỳ sở hanh, kỳ duy quân tử hồ", gặp hiểm mà vẫn vui, khốn mà không mất chỗ thông của mình, chỉ người quân tử làm được. Khảm là hiểm ở trong, Đoài là vui ở ngoài: trong lòng biết rõ cái khó, ngoài mặt không than.
Vế cuối Thoán là câu sắc nhất: "Thượng khẩu nãi cùng dã", chuộng miệng lưỡi thì càng cùng. Lúc khốn, giải thích càng nhiều càng ít người tin. Đoài vốn là tượng của cái miệng; ở đây miệng lại thành chỗ hỏng.
Đại Tượng: dốc hết mệnh để theo chí
Trạch vô thủy, Khốn; quân tử dĩ trí mệnh toại chí.
Đầm không nước là Khốn; người quân tử nhân đó dốc cả mệnh mình để theo cho trọn chí. Luận Ngữ chép lúc thầy trò Khổng Tử hết lương ở đất Trần, Tử Lộ hỏi người quân tử cũng có lúc cùng sao; Khổng Tử đáp: "Quân tử cố cùng", người quân tử vốn có lúc cùng; kẻ tiểu nhân cùng thì làm bậy. Khốn là phép thử: Hệ Từ gọi quẻ này là "đức chi biện", chỗ phân biệt được đức.
Sáu hào
Sơ lục — "Đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất địch"
Ngồi kẹt trên gốc cây trơ, vào trong hang tối, ba năm không thấy ai. Khốn ở chỗ thấp nhất mà lại tự thu vào tối. "Ba năm" là hình ảnh của sự kéo dài, không phải một con số hẹn.
Cửu nhị — "Khốn vu tửu thực, chu phất phương lai; lợi dụng hưởng tự; chinh hung, vô cữu"
Khốn trong rượu thịt, dải lụa đỏ sắp tới; lợi làm lễ tế; đi thì xấu, không lỗi. Đủ ăn mà không được dùng tới, đó cũng là một kiểu khốn. Người trên sẽ tìm tới; lúc này giữ lòng thành, đừng tự xông ra.
Lục tam — "Khốn vu thạch, cứ vu tật lê; nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung"
Kẹt trước đá, tựa vào bụi gai; về nhà không thấy vợ, xấu. Hệ Từ bàn hào này, đại ý: không phải chỗ đáng kẹt mà kẹt thì danh nhục, không phải chỗ đáng dựa mà dựa thì thân nguy. Chọn sai chỗ tựa là cái khốn tự mình gây ra.
Cửu tứ — "Lai từ từ, khốn vu kim xa; lận, hữu chung"
Đến chậm chạp, kẹt vì cỗ xe vàng; đáng tiếc, nhưng có kết. Muốn tới cứu hào đầu mà bị hào hai chắn đường. Chậm, ngượng, nhưng cuối cùng vẫn tới.
Cửu ngũ — "Nhị ngoạt, khốn vu xích phất; nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự"
Bị hình xẻo mũi chặt chân, khốn vì người mang dải đỏ; từ từ sẽ có vui, lợi làm lễ tế. Ngôi cao mà bị tổn hại cả trên lẫn dưới. Lối ra không ở cách mạnh tay, mà ở sự thành và thời gian.
Thượng lục — "Khốn vu cát lũy, vu niết ngột; viết động hối, hữu hối, chinh cát"
Bị dây sắn dây leo quấn, đứng chênh vênh; tự nhủ động thì hối, nhưng biết hối mà đi thì tốt. Đến cuối thời khốn, chính nỗi sợ hành động mới là sợi dây quấn. Dám bước là thoát.
Gieo được Khốn thì đọc thế nào
Việc làm. Thường đến khi nguồn lực cạn, bị bó tay, công sức không được ghi nhận. Lời quẻ dặn đừng giải thích nhiều; làm cho người ta thấy. Lục tam nhắc soát lại chỗ mình đang dựa: có phải là bụi gai không.
Quan hệ. Lời nói lúc này dễ bị nghi. Giảm tranh cãi, giữ lời hứa nhỏ, để việc làm nói thay.
Việc chờ đợi. Có thể lâu, như hào đầu. Nhưng hào cuối chỉ đúng lối ra: đến lúc thì phải động, đừng để nỗi sợ hối hận giữ chân.
Khốn không phải lời phán việc sẽ hỏng; nó tả một thời cạn và nói rõ người giữ được chí thì vẫn thông.
Quẻ trước, quẻ sau và các quẻ liên quan
Tự Quái truyện, đại ý: lên mãi không thôi thì ắt khốn, nên sau Địa Phong Thăng là Khốn; khốn ở trên thì ắt quay xuống dưới, nên sau Khốn là Thủy Phong Tỉnh. Cạn ở trên thì đào xuống tìm mạch.
- Quẻ đảo: Tỉnh. Tạp Quái nói Tỉnh là thông, Khốn là gặp chỗ kẹt.
- Quẻ đối: Sơn Hỏa Bí, trang sức. Bí là vẻ ngoài được tô điểm, Khốn là khi mọi lớp tô đã bị bóc đi.
- Quẻ hỗ: Phong Hỏa Gia Nhân. Lúc khốn, chỗ đứng còn lại là người trong nhà.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Khốn có phải quẻ xấu nhất trong 64 quẻ?
Không có quẻ nào xấu nhất. Lời quẻ Khốn còn có "hanh" và "không lỗi" cho người giữ chính; nó tả lúc khó, không đóng mọi cửa.
"Hữu ngôn bất tín" khuyên điều gì?
Lúc khốn, lời biện bạch ít ai tin. Thoán thêm: chuộng miệng lưỡi thì càng cùng; nên để việc làm thay lời.
Thời Khốn kéo dài bao lâu?
Quẻ không cho con số. "Ba năm" ở hào đầu là hình ảnh của sự kéo dài khi tự thu mình; hào cuối cho thấy lối ra mở khi mình dám động.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Khốn — lời quẻ, lời sáu hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện — Khốn, cương yểm dã; Trạch vô thủy · Chu Dịch — Hệ Từ truyện hạ — Khốn, đức chi biện dã; lời bàn hào lục tam · Luận Ngữ — Vệ Linh Công — Quân tử cố cùng
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế