Tứ Hoá: Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa, Hoá Kỵ là gì và vì sao gọi là "dụng" của lá số
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 15 phút đọc
Tứ Hoá là bốn trạng thái mà thiên can năm sinh gắn lên bốn sao trên lá số: Hoá Lộc (thuận), Hoá Quyền (nắm, chủ động), Hoá Khoa (được biết đến) và Hoá Kỵ (vướng, để tâm). Sao cho biết một người là gì; Tứ Hoá cho biết sao ấy được dùng ra sao. Vì thế người học Tử Vi hay nói: sao là "thể", hoá là "dụng".
Bốn sao không có chỗ đứng riêng
Lá số có hơn trăm sao, mỗi sao có một ô của mình: Tử Vi an theo ngày sinh và cục, Văn Xương theo giờ, Lộc Tồn theo can năm. Tứ Hoá thì khác. Không có ô nào tên là Hoá Lộc. Hoá Lộc là một dấu gắn lên một sao đã có sẵn, và sao nào nhận dấu ấy là do thiên can quyết định.
Người sinh năm Giáp: Liêm Trinh hoá Lộc, Phá Quân hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Khoa, Thái Dương hoá Kỵ. Liêm Trinh đứng ở ô nào thì Hoá Lộc theo về ô ấy. Năm Ất thì bốn dấu chuyển sang Thiên Cơ, Thiên Lương, Tử Vi, Thái Âm. Mười can, mỗi can một bộ bốn, tổng cộng bốn mươi lần "hoá".
Hai hệ quả hay bị bỏ qua:
- Tứ Hoá không thêm sao mới, chỉ đổi tính của sao cũ. Thái Âm hoá Lộc vẫn là Thái Âm, vẫn hành Thuỷ, vẫn sáng ở cung đêm; nó chỉ được "mở van". Đọc Hoá Lộc mà quên Thái Âm đang miếu hay hãm là đọc thiếu một nửa.
- Tứ Hoá khác "hoá khí" của sao. Mỗi chính tinh có một chữ hoá khí cố định: Thái Âm hoá khí là Phú, Cự Môn hoá khí là Ám, Phá Quân hoá khí là Hao. Đó là bản chất sao, không đổi theo năm. Tứ Hoá thì đổi theo can. Hai thứ cùng chữ "hoá" nên người mới hay lẫn; bài mười bốn chính tinh có bảng hoá khí đủ mười bốn sao.
Vì sao sao là "thể", hoá là "dụng"
Thể và dụng là cặp chữ cũ của triết học phương Đông: thể là cái bản chất, dụng là cái hiện ra khi đem dùng. Trong tử vi, lối nói "tinh vi thể, hoá vi dụng" (sao là thể, hoá là dụng) không phải câu của Toàn Thư mà là cách các thầy đời sau, nhất là bên Phi Tinh, tóm lại một điều sách cổ đã ngầm làm.
Một ví dụ cho thấy rõ. Lấy những người có Thiên Cơ ngồi cung Mệnh, cùng một độ sáng. Tính chất nền giống nhau: đầu óc nhanh, thích tính toán, dễ nghĩ nhiều. Nhưng theo can năm sinh:
| Can năm sinh | Thiên Cơ mang | Cùng một "thể" Thiên Cơ, "dụng" ra thành |
|---|---|---|
| Ất | Hoá Lộc | cái nhanh nhạy đem lại cơ hội, mối làm ăn |
| Bính | Hoá Quyền | cái nhanh nhạy thành quyền quyết, người hay cầm trịch kế hoạch |
| Đinh | Hoá Khoa | cái nhanh nhạy được người khác ghi nhận, có tiếng là người có cách |
| Mậu | Hoá Kỵ | cái nhanh nhạy quay vào trong: nghĩ đi nghĩ lại, khó buông |
| sáu can còn lại | không hoá | Thiên Cơ "trơn", đọc theo sao và tam phương |
Năm người cùng một sao nhưng sống sao ấy theo năm cách. Đó là ý của chữ "dụng". Thiên Cơ cũng là một trong hai chính tinh duy nhất nhận đủ cả bốn hoá qua mười can (sao kia là Vũ Khúc), nên rất hợp để làm ví dụ.
Hệ quả cho người đọc lá số: đừng dừng ở sao. Hai lá số cùng chính tinh ở Mệnh có thể khác nhau rất xa chỉ vì Tứ Hoá. Ngược lại, một cung nhiều sao đẹp mà không có hoá nào đi qua thì các thầy Phi Tinh hay coi là cung "đứng yên": đẹp mà ít động, ít chuyện xảy ra ở đó hơn người ta tưởng.
Bốn hoá, bốn trạng thái
Mỗi hoá có một bài riêng. Ở đây chỉ tóm phần lõi để thấy bốn hoá là một bộ, không phải bốn sao rời.
| Hoá | Chữ nghĩa | Trạng thái của sao | Hay hiện thành | Cái giá hay đi kèm |
|---|---|---|---|---|
| Hoá Lộc | lộc, bổng | thuận, có nguồn chảy vào | cơ hội, quan hệ, việc trôi | đến dễ thì đi cũng dễ; nhiều người tìm tới |
| Hoá Quyền | quyền, nắm | mạnh lên, chủ động | quyết đoán, cầm việc, tranh vị trí | cứng, ôm việc, va chạm |
| Hoá Khoa | khoa cử, danh | sáng lên trong mắt người khác | tiếng tốt, bằng cấp, quý nhân | danh có thể đi trước thực |
| Hoá Kỵ | kỵ, kiêng | co lại, bám vào | chỗ để tâm, lo, vướng, nợ | chậm, phải kỹ, khó buông |
Đọc bảng theo cột cuối mới thấy vì sao bốn hoá là một bộ cân bằng. Lộc không phải "tốt thuần", Kỵ không phải "xấu thuần". Lộc là dòng vào, Kỵ là chỗ giữ lại; Quyền là sức đẩy, Khoa là sự ghi nhận. Một người cần cả bốn. Người chỉ có Lộc mà không có chỗ giữ thì tiêu tán; người chỉ có Quyền mà không có Khoa thì làm được mà ít ai biết.
Các thầy Phi Tinh còn nói gọn hơn, đại ý: Lộc là chỗ duyên khởi, Kỵ là chỗ duyên thu lại — chuyện bắt đầu ở nơi có Lộc và đọng lại ở nơi có Kỵ. Quyền và Khoa là hai trạng thái ở giữa. Cách nói này giúp đọc một lá số như một câu chuyện có đầu có cuối, thay vì một danh sách sao tốt xấu.
Bảng mười can và vài điều bảng ấy cho thấy
Bảng đầy đủ, kèm các dị bản, ở bài bảng Tứ Hoá theo can. Bảng site dùng (phái Việt):
| Can | Hoá Lộc | Hoá Quyền | Hoá Khoa | Hoá Kỵ |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | Phá Quân | Vũ Khúc | Thái Dương |
| Ất | Thiên Cơ | Thiên Lương | Tử Vi | Thái Âm |
| Bính | Thiên Đồng | Thiên Cơ | Văn Xương | Liêm Trinh |
| Đinh | Thái Âm | Thiên Đồng | Thiên Cơ | Cự Môn |
| Mậu | Tham Lang | Thái Âm | Hữu Bật | Thiên Cơ |
| Kỷ | Vũ Khúc | Tham Lang | Thiên Lương | Văn Khúc |
| Canh | Thái Dương | Vũ Khúc | Thái Âm | Thiên Đồng |
| Tân | Cự Môn | Thái Dương | Văn Khúc | Văn Xương |
| Nhâm | Thiên Lương | Tử Vi | Thiên Phủ | Vũ Khúc |
| Quý | Phá Quân | Cự Môn | Thái Âm | Tham Lang |
Đếm trên bảng này ra mấy điều mà đọc từng dòng khó thấy:
- Thái Âm nhận hoá nhiều nhất: năm lần trên mười can (Lộc Đinh, Quyền Mậu, Khoa Canh và Quý, Kỵ Ất).
- Thiên Cơ và Vũ Khúc nhận đủ bốn loại hoá. Đây là hai sao "đổi mặt" nhiều nhất theo năm sinh.
- Thất Sát và Thiên Tướng không bao giờ hoá. Hai sao này luôn được đọc "trơn", tính chất của chúng chỉ đổi qua độ sáng và sao đi cùng.
- Tử Vi không bao giờ hoá Lộc hay hoá Kỵ, chỉ nhận Quyền (Nhâm) và Khoa (Ất). Thiên Lương không bao giờ hoá Kỵ. Sách hay gọi Thiên Lương là sao "ấm", che chở; bảng hoá cũng chưa từng đặt nó vào thế vướng.
- Thiên Phủ chỉ hoá một lần, và chỉ ở bảng phái Việt (Khoa can Nhâm). Phần lớn sách Đài Loan, Hồng Kông cho chỗ ấy là Tả Phù.
- Hoá Quyền của một can thường là Hoá Lộc của can liền trước. Phá Quân là Lộc của Quý rồi Quyền của Giáp; Thiên Cơ Lộc Ất, Quyền Bính; Thiên Đồng Lộc Bính, Quyền Đinh; cứ thế tới Thái Dương (Lộc Canh, Quyền Tân). Bảy trên mười can theo nếp này, chỉ Ất, Nhâm, Quý lệch. Người học thuộc bảng có thể dựa vào nếp ấy để nhớ, và cũng thấy bảng không phải ghép ngẫu nhiên.
Bốn lớp Tứ Hoá trên cùng một lá số
Người mới thường chỉ biết Tứ Hoá năm sinh. Thật ra một lá số đang chạy có ít nhất bốn lớp hoá chồng lên nhau, mỗi lớp lấy từ một thiên can khác:
| Lớp | Lấy theo can nào | Nói về |
|---|---|---|
| Tứ Hoá năm sinh (gốc) | can năm sinh | cả đời, cái nền |
| Tứ Hoá đại vận | can của cung đại vận đang chạy | mười năm |
| Tứ Hoá lưu niên | can của năm đang xem | một năm |
| Tứ Hoá theo can từng cung | can của mỗi cung trong mười hai cung | quan hệ giữa các mảng đời (lớp của Phi Tinh) |
Lá số mẫu dùng xuyên suốt chuyên mục: nữ, sinh 5 giờ 30 ngày 12/6/1992 (âm lịch 12 tháng Năm năm Nhâm Thân), Mệnh ở Mão có Thiên Cơ, Cự Môn cùng miếu. Bộ máy lá số của site cho bốn lớp như sau khi xem năm 2027:
- Gốc, can Nhâm: Thiên Lương hoá Lộc ở Phúc Đức, Tử Vi hoá Quyền ở Phụ Mẫu, Thiên Phủ hoá Khoa và Vũ Khúc hoá Kỵ cùng ở Tử Tức.
- Đại vận 34 – 43 tuổi, cung Tý, can Nhâm: đúng bộ hoá như gốc. Mười năm này lặp lại Tứ Hoá năm sinh, nên những gì vốn đậm trên lá số càng đậm hơn; cung Tý lại chính là chỗ Khoa và Kỵ gốc đang ngồi.
- Lưu niên 2027, can Đinh: Thái Âm hoá Lộc ở Phu Thê, Thiên Đồng hoá Quyền ở Tài Bạch, Thiên Cơ hoá Khoa và Cự Môn hoá Kỵ cùng rơi về cung Mệnh.
- Can cung Mệnh là Quý: phi Lộc vào Phá Quân ở Tật Ách, Quyền vào chính Cự Môn tại Mệnh, Khoa vào Thái Âm ở Phu Thê, Kỵ vào Tham Lang ở Huynh Đệ.
Đọc chồng lớp, năm 2027 của người này có một điểm hội tụ: Cự Môn ở Mệnh vừa được can cung Mệnh hoá Quyền, vừa nhận lưu Kỵ của năm. Lời nói là sức mạnh của người này, và năm ấy cũng là năm lời nói cần được đặt kỹ hơn: viết ra trước khi nói, nói ít mà chắc. Đó là cách Tứ Hoá biến một lá số tĩnh thành chuyện của từng năm. Bài Tứ Hoá năm 2027 có bảng tra cho mọi lá số.
Thứ tự đọc nên đi từ gốc ra ngoài. Lưu niên chỉ "kích" những gì gốc và đại vận đã có; một lưu Kỵ rơi vào cung mà gốc vững thì thường chỉ là việc cần làm kỹ, không phải chuyện lớn.
Đọc Tứ Hoá theo lối Tam Hợp
Lối đọc gần sách cổ nhất (sau này gọi là Tam Hợp) nhìn Tứ Hoá trong tam phương tứ chính của cung đang xét: chính cung, cung đối và hai cung tam hợp. Hoá ở chính cung nặng nhất, ở cung đối chiếu sang nhẹ hơn, ở tam hợp nhẹ hơn nữa.
Bộ máy của site đếm trên 20.000 lá số ngẫu nhiên:
| Trong tam phương tứ chính của cung Mệnh có | Tỉ lệ lá số |
|---|---|
| không hoá nào | 21,2% |
| một hoá | 38,7% |
| hai hoá | 27,6% |
| ba hoá | 11,3% |
| đủ bốn hoá | 1,1% |
Cứ năm người thì một người không có hoá nào chiếu Mệnh. Không có nghĩa là đời nhạt. Nghĩa là câu chuyện của người ấy nằm ở cung khác: ở Phu Thê, ở Điền Trạch, ở Phúc Đức. Đọc lá số nên tìm xem Tứ Hoá dồn về đâu rồi đọc đời người từ chỗ đó.
Cách cục cổ có đặt tên cho vài thế Tứ Hoá: Lộc, Quyền, Khoa cùng hội về tam phương Mệnh là thế Tam kỳ gia hội; đếm bằng máy ra 4,7% lá số có đủ ba hoá này trong tam phương tứ chính Mệnh, và 3,4% có đủ ba mà Kỵ không chen vào. Lộc gặp Lộc Tồn là Song Lộc. Hoá Khoa ngồi Mệnh còn Lộc nằm ở cung nhị hợp với Mệnh, thường được giảng là thế "Khoa minh Lộc ám": tiếng thì ai cũng thấy, lộc thì đến lặng lẽ. Các thế này xem ở bài cách cục tử vi.
Phi Tinh: cả một hệ đọc dựng trên Tứ Hoá
Phái Phi Tinh (và nhánh Khâm Thiên) ở Đài Loan đi xa hơn. Họ nhận xét: không chỉ năm sinh có can, mà mỗi cung trên lá số cũng có can (an theo phép Ngũ Hổ Độn từ can năm). Vậy mỗi cung cũng "phát" ra bốn hoá của riêng nó, bay sang cung có sao bị hoá. Mười hai cung, mỗi cung bốn hoá: một lá số có 48 đường bay.
Từ đó sinh ra một bộ ngữ pháp riêng:
- Phi hoá: "cung A phi Hoá Kỵ nhập cung B" — mảng đời A để tâm, bám vào mảng đời B.
- Kỵ xung: Kỵ nhập cung B thì cung đối của B bị lay. Phi Tinh đọc chỗ bị xung còn nặng hơn chỗ Kỵ nhập.
- Tự hoá: can của một cung hoá ngay sao trong cung ấy — năng lượng tự chảy ra khỏi cung. Bài Tự Hoá đi kỹ chuyện hướng tâm, ly tâm.
- Lai Nhân cung: cung mang đúng can năm sinh, được coi là gốc phát ra Tứ Hoá năm sinh. Xem bài Lai Nhân cung.
- Kỵ chuyển Kỵ, Song Kỵ: lần theo chuỗi Kỵ từ cung này sang cung khác. Xem bài Song Kỵ, Kỵ xung, Kỵ chuyển Kỵ.
Phi Tinh dùng rất ít phụ tinh, vì gần như cả lời đọc nằm trong đường bay của hoá. Đây là chỗ hai phái khác nhau tận gốc: Tam Hợp hỏi "cung này có những sao gì", Phi Tinh hỏi "cung này đi về đâu và ai đi về nó". Cách đọc từng bước, với một lá số thật, ở bài phi tinh Tứ Hoá.
Tứ Hoá từ đâu ra: truyền thống và văn bản
Theo truyền thống, Tử Vi Đẩu Số do Trần Đoàn (Hi Di tiên sinh, đời Tống) truyền lại, và bảng Tứ Hoá có từ đó.
Văn bản hiện còn cho thấy chuyện khác. Bảng Tứ Hoá theo mười can có trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, bộ sách lưu hành từ đời Minh trở đi; không có bản nào sớm hơn còn lại để đối chiếu. Một giả thuyết được nhiều người nghiên cứu nhắc tới: ý tưởng "mỗi can làm một sao biến tính" có thể mượn từ môn Thất Chính Tứ Dư (chiêm tinh dùng bảy thiên thể thật), nơi cũng có bảng các sao "hoá" theo can năm. Tử Vi giữ lại bốn hoá và đặt chúng lên các sao hư (sao không có trên bầu trời thật). Giả thuyết này hợp lý nhưng chưa có văn bản nối hai bên một cách trực tiếp; nên đọc như một hướng tìm hiểu, không như sử liệu.
Còn phép phi hoá theo can từng cung và Lai Nhân cung thì chưa thấy trong sách nào trước thế kỷ hai mươi. Các phái Phi Tinh nói đó là phép truyền khẩu lâu đời; người đọc nên biết rằng phần văn bản của nó mới.
Sách cổ nói gì
Giáp Liêm Phá Vũ Dương, Ất Cơ Lương Tử Âm, Bính Đồng Cơ Xương Liêm, Đinh Âm Đồng Cơ Cự, Mậu Tham Âm Hữu Cơ, Kỷ Vũ Tham Lương Khúc, Canh Dương Vũ Âm Đồng, Tân Cự Dương Khúc Xương, Nhâm Lương Tử Tả Vũ, Quý Phá Cự Âm Tham.
Dịch: mỗi câu là một can, bốn chữ sau lần lượt là sao hoá Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ. Ví dụ "Giáp Liêm Phá Vũ Dương": năm Giáp, Liêm Trinh hoá Lộc, Phá Quân hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Khoa, Thái Dương hoá Kỵ. — khẩu quyết Tứ Hoá lưu hành trong sách Đẩu Số
Bình: đây là bản học thuộc phổ biến ở Đài Loan; các bản chép lệch nhau đôi chữ mà không đổi nghĩa (câu Mậu có nơi chép "Mậu Tham Nguyệt Bật Cơ", Nguyệt tức Thái Âm). Bản phái Việt đổi đúng một sao: câu Nhâm đọc là "Nhâm Lương Tử Phủ Vũ", tức Hoá Khoa can Nhâm là Thiên Phủ thay cho Tả Phù. Khẩu quyết chỉ cho biết sao nào hoá, không nói hoá ấy nghĩa là gì; phần nghĩa nằm rải rác trong các bài phú.
Lộc phùng xung phá, cát xứ tàng hung.
Dịch: Lộc gặp xung phá thì trong chỗ tốt có ẩn chỗ xấu. — Thái Vi Phú, chép trong Toàn Thư
Bình: câu này thường được dẫn cho Lộc Tồn, nhưng người đọc Tứ Hoá dùng nó cho cả Hoá Lộc. Ý chính là sách cổ không coi Lộc là món quà trọn vẹn. Lộc phải được đọc cùng chỗ nó đứng và những gì chiếu vào nó. Đây cũng là tinh thần của cả bộ Tứ Hoá: không hoá nào tự nó tốt hay xấu.
Đọc cho đúng mức
- Tứ Hoá là phần động của lá số, nhưng không đứng một mình. Hoá rơi vào sao miếu và sao hãm cho hai câu chuyện khác nhau. Đếm trên 20.000 lá số, 35,3% Hoá Lộc rơi vào sao đang hãm (theo bảng độ sáng phái Việt); đọc mấy lá số ấy như "lộc dồi dào" là đọc sai.
- Các phái không chung một bảng. Can Canh và can Nhâm có dị bản; phái Việt và phần lớn sách Đài Loan khác nhau ở Hoá Khoa can Nhâm. Một lời luận dựa vào Hoá Khoa của người tuổi Nhâm phải nói rõ theo bảng nào.
- Phi Tinh mạnh ở chỗ nối quan hệ, nhưng dễ đọc thành định mệnh. Một lá số trung bình có khoảng bốn lần tự hoá, và gần ba phần tư lá số có ít nhất một cung tự hoá Kỵ. Thấy là chuyện thường, đừng hoảng.
- Kỵ không phải xui. Kỵ là chỗ mình để tâm. Người có Kỵ ở Quan Lộc thường là người nghĩ về công việc nhiều hơn người khác; đó có thể là gánh nặng, cũng có thể là lý do họ làm tốt.
- Tứ Hoá là kiến thức của một môn lý số cổ, giúp nhìn lại mình và sắp việc. Nó không thay cho thông tin thật về sức khoẻ, tài chính hay pháp lý.
Việc nên làm
- Lập lá số và ghi riêng bốn sao Tứ Hoá năm sinh: mỗi hoá ở cung nào, sao ấy sáng hay tối.
- Tìm chỗ Hoá Lộc và chỗ Hoá Kỵ trước. Lộc chỉ chỗ mình có duyên, dễ được; Kỵ chỉ chỗ mình hay để tâm. Hai chỗ ấy thường nói về một người nhiều hơn mọi sao khác.
- Sau đó mới xem Tứ Hoá của đại vận đang chạy và của năm nay, xem chúng rơi vào đúng chỗ của gốc hay mở ra chỗ mới.
- Nếu muốn học Phi Tinh, học vững bảng mười can và mười hai cung trước, rồi tập trên một lá số quen (của mình hay người thân) cho tới khi tự lần được đường bay mà không cần tra.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — bảng Tứ Hoá theo mười can; Thái Vi Phú (đại ý, có dị bản giữa các bản in).
- Khẩu quyết Tứ Hoá theo mười can lưu hành trong sách Đẩu Số (bản Đài Loan phổ biến; bản phái Việt đổi Hoá Khoa can Nhâm).
- Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên.
- Tài liệu giảng dạy phái Phi Tinh, Khâm Thiên Tứ Hoá của Đài Loan (đại ý, mức khái quát).
- Các phép đếm trên 20.000 lá số ngẫu nhiên (1950 – 2010) và lá số mẫu: bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi`).
Câu hỏi thường gặp
Tứ Hoá là sao gì trên lá số tử vi?
Tứ Hoá không phải bốn sao có chỗ riêng mà là bốn dấu Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ gắn lên bốn sao sẵn có, theo thiên can năm sinh. Sao nào nhận dấu thì tính chất của sao ấy được đọc theo trạng thái của hoá.
Vì sao nói sao là "thể", Tứ Hoá là "dụng"?
Sao cho biết bản chất, Tứ Hoá cho biết bản chất ấy được dùng ra sao trong đời. Cùng Thiên Cơ ở Mệnh, người tuổi Ất có Cơ hoá Lộc, người tuổi Mậu có Cơ hoá Kỵ, nên cùng một tính nhanh nhạy mà hai người sống nó rất khác nhau.
Có Hoá Kỵ ở cung Mệnh có phải số vất vả?
Không nên đọc như vậy. Kỵ ở Mệnh thường là người để tâm vào chính mình nhiều, kỹ tính, khó buông, nên dễ tự làm mình mệt. Cách đọc đầy đủ còn tuỳ sao mang Kỵ sáng hay tối và có Lộc, Khoa chiếu về hay không.
Tứ Hoá năm sinh và Tứ Hoá lưu niên khác nhau thế nào?
Tứ Hoá năm sinh lấy theo can năm sinh và áp cho cả đời. Tứ Hoá lưu niên lấy theo can của năm đang xem, chỉ áp trong năm ấy, và được đọc như lớp kích hoạt chồng lên lớp gốc và lớp đại vận.
Bảng Tứ Hoá của site có giống các trang Đài Loan không?
Giống ở tám can. Khác ở Hoá Khoa can Nhâm (phái Việt là Thiên Phủ, phần lớn sách Đài Loan là Tả Phù); can Canh thì các sách Trung Hoa có nhiều bản, site theo bản phổ biến Thái Dương, Vũ Khúc, Thái Âm, Thiên Đồng.
Nguồn tham khảo: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — bảng Tứ Hoá theo mười can; Thái Vi Phú · Khẩu quyết Tứ Hoá theo mười can lưu hành trong sách Đẩu Số · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang · Tài liệu giảng dạy phái Phi Tinh, Khâm Thiên Tứ Hoá (Đài Loan, nửa sau thế kỷ hai mươi) · Phép đếm trên 20.000 lá số bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com