Dịch Cân Kinh: văn bản thật xuất hiện khi nào, truyền thuyết Đạt Ma có mấy lớp, và mười hai thế tập ra sao

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Dịch Cân Kinh: văn bản thật xuất hiện khi nào, truyền thuyết Đạt Ma có mấy lớp, và mười hai thế tập ra sao

Dịch Cân Kinh (kinh đổi gân) được truyền là do Bồ Đề Đạt Ma để lại ở chùa Thiếu Lâm, nhưng văn bản hiện còn chỉ xuất hiện vào cuối đời Minh, đầu thế kỷ mười bảy. Hai bài tựa mượn tên danh tướng Lý Tĩnh đời Đường và Ngưu Cao đời Tống đều lộ dấu viết muộn. Bộ mười hai thế phổ biến hôm nay lại là bản đời Thanh. Tập được, nhưng nên biết đó là bài tập đời sau.

Dịch Cân Kinh là ví dụ rõ nhất trong chuyên mục này về chuyện truyền thuyết và văn bản quấn vào nhau. Bài này tách từng lớp, rồi mới nói tới động tác và những chỗ cần cẩn thận khi tập.

Bài viết là kiến thức văn hoá và vận động, không thay cho khám và điều trị. Một số thế trong Dịch Cân Kinh khá nặng; người có bệnh tim mạch, huyết áp, cột sống nên hỏi bác sĩ trước.

Bốn lớp của câu chuyện Đạt Ma

Câu chuyện quen thuộc là: Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang, ngồi quay mặt vào vách ở Thiếu Lâm chín năm, thấy tăng chúng ngồi thiền yếu sức nên dạy phép luyện thân, để lại hai quyển Dịch Cân Kinh và Tẩy Tuỷ Kinh. Câu chuyện này thật ra gồm bốn lớp, có tuổi rất khác nhau.

LớpNội dungCó từ khi nàoĐánh giá
1Có một thiền sư tên Bồ Đề Đạt Ma đến Trung HoaThế kỷ sáu, ghi trong Lạc Dương Già Lam Ký và Tục Cao Tăng TruyệnCó cơ sở sử liệu, dù chi tiết đời ông mờ
2Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách chín năm ở Thiếu LâmTruyền thống Thiền tông đời sauTruyền thuyết, phát triển dần qua các đời
3Đạt Ma là tổ của võ thuật Thiếu LâmRất muộn, không thấy trong tài liệu cổ về Đạt MaTruyền thuyết; sử Thiếu Lâm không chép
4Đạt Ma để lại Dịch Cân KinhVăn bản xuất hiện cuối đời MinhMượn tên

Lớp một là sử. Lạc Dương Già Lam Ký, sách đời Bắc Nguỵ, nhắc một vị sư phương tây tên Bồ Đề Đạt Ma đến ngắm chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương và khen ngợi. Tục Cao Tăng Truyện của Đạo Tuyên đời Đường có truyện riêng về ông, mô tả phép tu của ông bằng chữ "bích quán".

Lớp hai bắt đầu từ chính chữ "bích quán" ấy. Nghĩa gốc nhiều khả năng là "quán như bức vách": tâm vững, không lay động, như vách đá. Người đời sau hiểu theo nghĩa đen là "nhìn vào vách", rồi thêm con số chín năm, thêm hang đá sau núi Thiếu Lâm.

Lớp ba và bốn là những gì Dịch Cân Kinh dựa vào. Sử liệu về Thiếu Lâm có nhắc tăng binh giúp nhà Đường từ thế kỷ bảy, nhưng không hề gắn võ thuật của chùa với Đạt Ma. Mối gắn này phần lớn đến từ chính các bài tựa của Dịch Cân Kinh.

Văn bản: hai bài tựa và chỗ lộ niên đại

Bản Dịch Cân Kinh lưu hành có hai bài tựa:

  • Một bài đề tên Lý Tĩnh, danh tướng đầu đời Đường, ghi năm Trinh Quán thứ hai (năm 628).
  • Một bài đề tên Ngưu Cao, tướng dưới quyền Nhạc Phi đời Nam Tống, ghi năm Thiệu Hưng thứ mười hai (năm 1142).

Bài tựa Lý Tĩnh kể sách được tìm thấy trong vách tường Thiếu Lâm, truyền qua tay nhiều người, rồi tới tay một nhân vật gọi là Cầu Nhiêm Khách, người truyền cho Lý Tĩnh. Chi tiết ấy là chỗ lộ: Cầu Nhiêm Khách là nhân vật của truyện truyền kỳ, không phải người có thật trong sử. Một bài tựa thật năm 628 không thể nhắc nhân vật của truyện viết sau đó.

Bài tựa Ngưu Cao kể ông là người không biết chữ, được một vị sư trao sách. Một bài tựa văn hoa lại đề tên một người tự nhận mình không biết chữ cũng là điều đáng ngờ.

Nhà nghiên cứu võ thuật Đường Hào, trong các khảo cứu thập niên 1930–1940, đã chỉ ra những chỗ vô lý này và cho rằng văn bản do một đạo sĩ đời Minh soạn, khoảng đầu thế kỷ mười bảy. Ý kiến của ông được phần đông người nghiên cứu sau này chấp nhận. Nội dung sách cũng hợp với kết luận ấy: nó trộn ngôn ngữ nội đan Đạo giáo, phép xoa bóp, phép đập vỗ thân thể bằng túi và chày để "luyện gân", và các bài thuốc. Chẳng có mấy dấu vết của thiền học Ấn Độ.

Mười hai thế: bản phổ biến hôm nay

Bộ động tác người ta tập ở công viên, câu lạc bộ khi nói "Dịch Cân Kinh" là mười hai thế, thấy trong các sách dưỡng sinh thế kỷ mười chín. Nó khác khá xa văn bản đời Minh (vốn nặng về đập vỗ và thuốc). Mười hai thế gồm:

#Tên thếTinh thần động tácLưu ý
1Vi Đà hiến xử (thức một)Chắp tay trước ngực, đứng yênThế tĩnh, nhẹ
2Vi Đà hiến xử (thức hai)Dang hai tay ngang vaiKhông nhô vai
3Vi Đà hiến xử (thức ba)Hai tay nâng lên trời, nhón gótNgười kém thăng bằng không nhón
4Trích tinh hoán đấu (hái sao đổi chòm)Một tay vươn lên, ngoái nhìn lòng bàn tayXoay cổ chậm
5Đảo duệ cửu ngưu vĩ (kéo ngược đuôi chín trâu)Xuống tấn cung, hai tay như kéoGối không vượt mũi chân
6Xuất trảo lượng sí (giương vuốt xoè cánh)Đẩy hai tay ra trướcThở ra khi đẩy, không gồng
7Cửu quỷ bạt mã đao (rút đao ngựa)Một tay ôm sau gáy, xoay thânNgười đau cổ làm rất nhẹ
8Tam bàn lạc địa (ba mâm rơi đất)Xuống tấn thấp, hai tay ấn xuốngKhông xuống quá thấp
9Thanh long thám trảo (rồng xanh dò vuốt)Một tay vươn sang bên, cúi xoay thânCúi vừa sức
10Ngoạ hổ phốc thực (hổ nằm vồ mồi)Thế chống tay xuống đất, đẩy thânThế nặng nhất; người lớn tuổi, đau cổ tay, huyết áp cao nên bỏ
11Đả cung (cúi chào)Hai tay ôm gáy, cúi gập ngườiNgười đau cổ, đau lưng không cúi sâu, không kéo gáy
12Điệu vĩ (vẫy đuôi)Cúi người, tay chạm đất, ngẩng đầuNgười thoát vị đĩa đệm, huyết áp cao làm nhẹ hoặc bỏ

Ba thế đầu đều mang tên Vi Đà, vị thần hộ pháp trong chùa Phật, cho thấy người soạn muốn giữ màu sắc nhà Phật cho bộ động tác dù gốc văn bản là Đạo gia.

So với Bát Đoạn Cẩm, Dịch Cân Kinh mười hai thế nặng hơn: có những thế chống tay, cúi gập, xuống tấn thấp, giữ lâu. Nó hợp với người đã có nền vận động; người mới, người lớn tuổi nên bắt đầu bằng Bát Đoạn Cẩm hay Ngũ Cầm Hí.

Tập thế nào cho an toàn

  • Bỏ hoặc làm nhẹ ba thế rủi ro: Ngoạ hổ phốc thực, Đả cung, Điệu vĩ, nếu có bệnh cột sống, huyết áp, cổ tay.
  • Không nín thở khi giữ thế. Nhiều bản dạy "giữ khí" khi gồng; với người huyết áp cao, nín thở trong lúc gồng làm huyết áp tăng vọt.
  • Giữ thế ngắn lúc đầu, vài nhịp thở, tăng dần.
  • Không đập vỗ thân thể bằng dụng cụ theo kiểu "luyện gân" của văn bản cổ. Việc đập mạnh có thể gây bầm, tổn thương, đặc biệt với người dùng thuốc chống đông.
  • Đau nhói, chóng mặt, tức ngực thì dừng ngay và đi khám.

Về nghiên cứu: có một số thử nghiệm nhỏ về Dịch Cân Kinh mười hai thế ở người cao tuổi và người bệnh mạn tính, cho thấy cải thiện độ dẻo, sức cơ, chất lượng sống ở mức khiêm tốn. Bằng chứng ít hơn Bát Đoạn Cẩm và thái cực quyền.

Sách cổ nói gì

Đại thừa bích quán, công nghiệp tối cao.

Dịch: Phép bích quán Đại thừa, công phu cao nhất. — Tục Cao Tăng Truyện, truyện Bồ Đề Đạt Ma

Bình: Đây là bốn chữ cổ nhất mô tả phép tu của Đạt Ma, và nó nói về thiền quán, không nói một chữ nào về luyện thân hay võ nghệ. Người muốn biết Đạt Ma dạy gì nên bắt đầu từ đây và từ văn bản "Nhị nhập tứ hạnh" gắn với ông, chứ không phải từ Dịch Cân Kinh.

Dịch Cân Kinh, bài tựa đề Lý Tĩnh, đại ý: sách được tìm thấy trong vách chùa sau khi Đạt Ma tịch, truyền qua nhiều người tới Cầu Nhiêm Khách rồi tới người viết tựa. Bình: đọc bài tựa như một tác phẩm văn chương thì rất thú vị, vì nó cho thấy người đời Minh muốn tạo uy tín cho một bộ phép luyện thân bằng cách gắn nó với một vị tổ Thiền tông và một danh tướng. Đọc như sử liệu thì phải dừng ở chỗ Cầu Nhiêm Khách.

Đọc cho đúng mức

Dịch Cân Kinh không phải của Đạt Ma. Văn bản xuất hiện cuối đời Minh, hai bài tựa mượn tên, bộ mười hai thế còn muộn hơn.

Mượn tên không có nghĩa là vô giá trị. Nhiều bài tập đời sau vẫn có ích. Điều cần là biết mình đang tập cái gì: một bộ động tác dưỡng sinh đời Thanh, không phải "bí kíp Thiếu Lâm ngàn năm".

Phần đập vỗ và thuốc trong văn bản cổ không nên làm theo. Đó là thực hành của thời đại, có rủi ro, và không có bằng chứng an toàn.

Truyện võ hiệp đã thêm một lớp nữa. Hình ảnh Dịch Cân Kinh luyện xong thì nội công thâm hậu, đả thông kinh mạch là của tiểu thuyết. Xem thêm bài Tẩy Tuỷ Kinh và tẩu hoả nhập ma.

Việc nên làm

  1. Đọc bảng bốn lớp truyền thuyết để biết mình đang nghe chuyện sử hay chuyện kể.
  2. Người mới bắt đầu bằng Bát Đoạn Cẩm, quen rồi mới thêm Dịch Cân Kinh.
  3. Hỏi bác sĩ trước nếu có bệnh cột sống, huyết áp; mang theo bảng mười hai thế để bác sĩ chỉ thế nào nên bỏ.
  4. Không nín thở khi giữ thế, không đập vỗ thân thể bằng dụng cụ.
  5. Muốn hiểu Đạt Ma thật sự dạy gì, đọc thêm về thiền trong bài thiền và tĩnh toạ.
✨Hỏi AI Huyền Học
Hỏi bất cứ điều gì về tử vi, Kinh Dịch, phong thuỷ, ngày tốt xấu.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Đạo Tuyên, Tục Cao Tăng Truyện, truyện Bồ Đề Đạt Ma.
  • Dương Huyễn Chi, Lạc Dương Già Lam Ký (đoạn chùa Vĩnh Ninh, đại ý).
  • Dịch Cân Kinh, bản lưu hành với hai bài tựa đề Lý Tĩnh và Ngưu Cao (đại ý).
  • Đường Hào, các khảo cứu về Thiếu Lâm và Dịch Cân Kinh, thập niên 1930–1940 (đại ý kết luận).
  • Các thử nghiệm nhỏ về Dịch Cân Kinh mười hai thế (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Dịch Cân Kinh có phải do Đạt Ma viết không?

Không. Văn bản hiện còn xuất hiện cuối đời Minh, đầu thế kỷ mười bảy. Hai bài tựa mượn tên Lý Tĩnh và Ngưu Cao đều có chỗ lộ niên đại, như việc nhắc nhân vật truyện truyền kỳ Cầu Nhiêm Khách.

Dịch Cân Kinh có bao nhiêu thế?

Bộ phổ biến hôm nay có mười hai thế, từ ba thức Vi Đà hiến xử đến Điệu vĩ, thấy trong các sách dưỡng sinh thế kỷ mười chín. Văn bản đời Minh có nội dung khác, nặng về đập vỗ và thuốc.

Dịch Cân Kinh khác Bát Đoạn Cẩm thế nào?

Dịch Cân Kinh nặng hơn, có thế chống tay, cúi gập sâu, xuống tấn thấp, giữ lâu. Bát Đoạn Cẩm nhẹ hơn, hợp người mới và người lớn tuổi.

Đạt Ma có phải tổ của võ Thiếu Lâm không?

Không có tài liệu cổ nào nói vậy. Sử chép Đạt Ma là thiền sư với phép bích quán; mối gắn với võ thuật Thiếu Lâm là truyền thuyết muộn.

Người lớn tuổi có nên tập Dịch Cân Kinh không?

Có thể tập phần lớn các thế với biên độ nhỏ, nhưng nên bỏ hoặc làm rất nhẹ các thế Ngoạ hổ phốc thực, Đả cung, Điệu vĩ và hỏi bác sĩ trước.

Nguồn tham khảo: Tục Cao Tăng Truyện — Đạo Tuyên (đời Đường) — truyện Bồ Đề Đạt Ma, chữ bích quán · Lạc Dương Già Lam Ký — Dương Huyễn Chi — đoạn nhắc Bồ Đề Đạt Ma ở chùa Vĩnh Ninh · Dịch Cân Kinh — bản lưu hành có hai bài tựa đề Lý Tĩnh, Ngưu Cao · Đường Hào — các khảo cứu về Thiếu Lâm và Dịch Cân Kinh (thập niên 1930–1940)

Thiền hành và thiền ngồi trong truyền thống Làng Mai, Trúc Lâm: khác gì nhauThiền hành và thiền ngồi theo Làng Mai của Thích Nhất Hạnh và Trúc Lâm của Thích Thanh Từ: cách tập, chỗ khác nhau, nghiên cứu về…
Lục Tự Quyết: sáu âm thở ra "hư, ha, hô, hí, xuy, hy" trong sách cổLục Tự Quyết là phép thở ra theo sáu khẩu hình hư, ha, hô, hí, xuy, hy, chép trong Dưỡng Tính Diên Mệnh Lục. Văn bản gốc, bảng tạ…
Tĩnh tọa của Nho gia: Trình Hạo, Chu Hy, Vương Dương Minh và nửa ngày ngồi yên, nửa ngày đọc sáchTĩnh tọa Nho gia: ngồi yên để sửa mình, không để thành tiên; từ Trình môn lập tuyết, Lý Đồng, Chu Hy bán nhật tĩnh tọa đến Vương …
Thở bụng, thở đan điền: cách tập cơ bản từng bước, nghiên cứu về thở chậm và những giới hạn cần biếtThở bụng, thở đan điền: cơ hoành làm việc thế nào, tập nằm rồi ngồi, thở chậm khoảng sáu hơi mỗi phút, thở thuận và thở nghịch, n…
Nội đan: tinh, khí, thần và ba đan điền, đọc như văn bản tư tưởngNội đan là gì: Đạo giáo mượn ngôn ngữ lò đỉnh, chì, thuỷ ngân để nói chuyện tu thân; đọc Tham Đồng Khế, Chung Lữ Truyền Đạo Tập, …
Thái cực quyền dưỡng sinh: gốc võ thuật từ làng họ Trần, bài 24 thức, và nghiên cứu về thăng bằng, té ngã ở người cao tuổiThái cực quyền dưỡng sinh: gốc ở Trần gia câu, các phái Trần, Dương, Ngô, Võ, Tôn, bài 24 thức, nghiên cứu giảm té ngã ở người ca…