Huyền Không Đại Quái: 64 quẻ trên la kinh, quái vận, quái số và phép "thu sơn xuất sát"
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc
Huyền Không Đại Quái là nhánh Tam Nguyên chia la kinh thành 64 quẻ, mỗi quẻ 5,625 độ, theo thứ tự phương vị Tiên Thiên của Thiệu Ung. Mỗi quẻ mang một quái vận (thời đắc lệnh) và một quái số; thầy chọn hướng đến từng quẻ sao cho núi rơi vào quẻ đắc vận, nước rơi vào quẻ thất vận, tức phép "thu sơn xuất sát".
Bài Đại Quái và Phi Tinh khác nhau thế nào đã so hai nhánh ở mức nguyên lý. Bài này đi vào chính phép: vòng quẻ xếp ra sao, quái vận và quái số tính thế nào, và một hướng nhà cụ thể tra ra quẻ gì.
Vòng 64 quẻ không xếp theo thứ tự Kinh Dịch
Thứ tự 64 quẻ trong sách Chu Dịch (Càn, Khôn, Truân, Mông…) là thứ tự Văn Vương. Vòng trên la kinh dùng thứ tự khác: Phục Hy lục thập tứ quái phương vị của Thiệu Ung đời Tống, được Chu Hy in đầu Chu Dịch Bản Nghĩa. Cách xếp ấy như sau:
- Càn ở chính Nam, Khôn ở chính Bắc, đúng như Tiên Thiên bát quái (bài Tiên Thiên, Hậu Thiên bát quái).
- Nửa phía Đông, từ Bắc đi qua Đông lên Nam: Phục, Di, Truân, Ích, Chấn… đến Càn. Ba mươi hai quẻ này đều có hào đầu là dương.
- Nửa phía Tây, từ Nam đi qua Tây về Bắc: Cấu, Đại Quá, Đỉnh, Hằng, Tốn… đến Khôn. Ba mươi hai quẻ này đều có hào đầu là âm.
- Cứ tám quẻ liền nhau (45 độ) có chung nội quái (quẻ dưới); trong mỗi nhóm, ngoại quái đổi theo một trật tự cố định.
Theo cách đặt phổ biến, ranh giới Khôn – Phục nằm đúng chính Bắc (0 độ). 360 độ chia 64 thì mỗi quẻ 5,625 độ, mỗi sơn 15 độ chứa hai quẻ và hai phần ba. Không quẻ nào trùng khít một sơn; đây là lý do tầng 64 quẻ trên la kinh trông "lệch" so với tầng 24 sơn (bài các tầng la kinh).
Quái vận: so hai nửa của quẻ
Mỗi quẻ kép gồm nội quái (ba hào dưới) và ngoại quái (ba hào trên). Lối ra quái vận phổ biến nhất trong sách Đại Quái hiện đại là so từng hào của nội quái với hào tương ứng của ngoại quái: hào đầu với hào bốn, hào hai với hào năm, hào ba với hào sáu. Chỗ nào khác nhau ghi dương, giống nhau ghi âm; ba vạch ấy thành một quẻ đơn, và số Tiên Thiên trên Lạc Thư của quẻ đơn ấy là quái vận.
Số Tiên Thiên dùng ở đây: Càn 9, Đoài 4, Ly 3, Chấn 8, Tốn 2, Khảm 7, Cấn 6, Khôn 1 (bài số Tiên Thiên, Hậu Thiên). Vì không có quẻ đơn nào mang số 5, quái vận không có vận 5. Kết quả chia 64 quẻ thành tám nhóm đều nhau:
| Quái vận | Hào khác nhau giữa hai nửa | Tám quẻ |
|---|---|---|
| 1 | không hào nào (quẻ thuần) | Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài |
| 9 | cả ba hào | Thái, Bĩ, Ký Tế, Vị Tế, Hằng, Ích, Tổn, Hàm |
| 8 | chỉ hào đầu | Phục, Cấu, Bí, Lữ, Tiết, Khốn, Tiểu Súc, Dự |
| 7 | chỉ hào giữa | Sư, Tỷ, Đồng Nhân, Đại Hữu, Tùy, Cổ, Quy Muội, Tiệm |
| 6 | chỉ hào trên | Bác, Quải, Khiêm, Lý, Phệ Hạp, Tỉnh, Phong, Hoán |
| 4 | hào đầu và hào giữa | Lâm, Độn, Truân, Đỉnh, Gia Nhân, Giải, Đại Súc, Tụy |
| 3 | hào đầu và hào trên | Di, Đại Quá, Minh Di, Tụng, Trung Phu, Tiểu Quá, Nhu, Tấn |
| 2 | hào giữa và hào trên | Thăng, Vô Vọng, Mông, Cách, Kiển, Khuê, Quán, Đại Tráng |
Tám quẻ thuần ở vận 1 được nhiều sách gọi là "phụ mẫu quái". Tám quẻ vận 9 là những quẻ mà nội, ngoại quái đối nhau trọn vẹn, như Thái (Đất trên Trời) hay Ký Tế (Nước trên Lửa).
Quái số: số của ngoại quái
Quái số (có sách gọi quái khí) là số Tiên Thiên của ngoại quái. Phục có ngoại quái Khôn nên quái số 1; Đại Hữu có ngoại quái Ly nên quái số 3. Có dòng lấy theo nội quái hoặc ghi cả hai; khi đọc sách nên xem tác giả định nghĩa thế nào.
Hai tính chất rút ra được bằng máy và kiểm lại tay, rất có ích để đối chiếu la kinh:
- Quẻ tọa và quẻ hướng luôn cùng quái vận, vì quẻ đối diện trên vòng là quẻ có mọi hào đảo ngược (Phục đối Cấu, Truân đối Đỉnh).
- Quái số của quẻ tọa và quẻ hướng luôn cộng thành 10. Đây là một dạng "hợp thập" sẵn có của vòng quẻ, khác với hợp thập trong Phi Tinh (bài hợp thập, liên châu).
Tra thử một hướng nhà
Lấy lại căn nhà ở bài các tầng la kinh: mặt tiền đo được 200 độ, tức hướng Đinh, tọa Quý. Chạy bộ dựng vòng quẻ:
| Số đo hướng | Sơn | Quẻ hướng | Quái vận | Quái số | Quẻ tọa (đối diện) |
|---|---|---|---|---|---|
| 190° | Đinh | Đại Quá | 3 | 4 | Di, vận 3, số 6 |
| 195° (giữa sơn Đinh) | Đinh | Đỉnh | 4 | 3 | Truân, vận 4, số 7 |
| 197° – 202° | Đinh | Hằng | 9 | 8 | Ích, vận 9, số 2 |
| 203° | Mùi | Tốn | 1 | 2 | Chấn, vận 1, số 8 |
Bảng này nói ba điều. Một, một sơn Đinh chứa ba quẻ với ba quái vận khác hẳn nhau (3, 4, 9): Phi Tinh coi cả dải 187,5 – 202,5 độ là một hướng, Đại Quái thì không. Hai, số đo 200 độ rơi vào quẻ Hằng, vận 9, nhưng chỉ cách ranh giới quẻ Tốn 2,5 độ; đo lệch 3 độ là nhà chuyển sang quẻ vận 1, đầu kia của bảng vận. Ba, đổi Bắc từ sang Bắc thật ở miền Bắc Việt Nam (lệch cỡ một đến hai độ, bài độ từ thiên ở Việt Nam) cũng đủ đổi kết luận cho căn nhà này.
Thu sơn xuất sát
"Thu sơn xuất sát" là khẩu quyết được các sách Đại Quái nhắc nhiều nhất. Đại ý: thu lấy khí tốt về phía núi, đẩy khí xấu ra theo phía nước. Cụ thể hơn, theo lối giảng phổ biến:
| Đặt ở quẻ đắc vận (chính thần) | Đặt ở quẻ thất vận (linh thần) | |
|---|---|---|
| Núi, nhà cao, chỗ tĩnh, chỗ dựa | nên — "thu sơn" | không nên |
| Nước, đường, chỗ trũng, cửa động | không nên | nên — "xuất sát" |
Quẻ nào đắc vận tùy cách chia thời gian. Nhiều dòng Đại Quái chia 180 năm làm hai nguyên chứ không phải ba: quẻ vận 1 – 4 thuộc thượng nguyên, quẻ vận 6 – 9 thuộc hạ nguyên; theo cách chia hay gặp, giai đoạn hiện nay thuộc hạ nguyên. Có dòng lại lấy thẳng vận của tam nguyên cửu vận, coi quẻ vận 9 là vượng từ 2024 (bài tam nguyên cửu vận). Hai lối cho kết luận gần nhau ở quẻ vận 9 và vênh nhau ở các quẻ vận 6, 7, 8.
Điều cần thấy: vì tọa và hướng luôn cùng quái vận, phép thu sơn xuất sát không xét tọa với hướng mà xét núi và nước thật quanh nhà nằm ở quẻ nào. Với căn nhà 200 độ ở trên, câu hỏi Đại Quái đặt ra là: tòa nhà cao phía sau, con đường phía trước, ngã ba gần nhất, mỗi thứ nằm ở quẻ nào, quẻ ấy đắc vận hay thất vận. Đó là lý do một buổi xem Đại Quái đúng phép đo rất nhiều điểm chứ không chỉ đo cửa.
Câu chữ gốc của khẩu quyết này được gán cho kinh văn Tam Nguyên; chúng tôi chưa xác định được nó nằm ở câu nào trong các kinh của Địa Lý Biện Chính, nên chỉ dẫn như khẩu quyết của nghề.
Vì sao phái này khó và ít sách đáng tin
- Độ chính xác. Một quẻ chưa tới 6 độ, một hào chưa tới 1 độ. La bàn điện thoại trong nhà phố sai 3 – 5 độ (bài đo hướng nhà bằng điện thoại).
- Quy tắc không thống nhất. Cách ra quái vận trong bài là cách phổ biến nhất, nhưng có dòng lấy quái số theo nội quái, có dòng chia một nguyên khác, có la kinh dịch vòng quẻ nửa quẻ. Cùng một số đo, hai sách có thể cho hai quái vận.
- Văn bản. Trương Tâm Ngôn đời Thanh thường được nêu là người đọc Biện Chính theo 64 quẻ (bài Địa Lý Biện Chính), nhưng phần lớn phép Đại Quái hiện hành đến từ tài liệu giảng dạy của các dòng thầy thế kỷ 20, không có một cuốn sách nền công khai như Thẩm Thị cho Phi Tinh.
- Thị trường. Vì khó kiểm, Đại Quái hay được bán như "phép cao nhất, bí truyền". Một phép không ai kiểm được không vì thế mà cao hơn.
Sách cổ nói gì
Thức đắc Phụ Mẫu tam ban quái, tiện thị chân thần lộ.
Biết được ba loại quẻ Cha Mẹ, ấy là đường của thần thật. — Thanh Nang Áo Ngữ, theo bản trong Địa Lý Biện Chính
Bình: câu này là ví dụ điển hình cho việc một dòng kinh nuôi hai bộ máy. Nhánh Phi Tinh đọc "phụ mẫu tam ban" là ba nhóm số 1-4-7, 2-5-8, 3-6-9 trên tinh bàn, một cách "cứu" tinh bàn. Nhánh Đại Quái đọc "phụ mẫu" là các quẻ thuần (quái vận 1), gốc sinh ra các quẻ khác bằng cách đổi hào, và "tam ban" là phép phối các quẻ theo số. Trương Tâm Ngôn trong bản Sớ, đại ý, giải nhiều câu Áo Ngữ theo lối quẻ như vậy; Tưởng Đại Hồng chú câu này mà không nói phép. Không có văn bản trước Tưởng để phân xử.
Đọc cho đúng mức
Bảng quái vận trong bài theo quy tắc phổ biến nhất, dựng bằng máy và kiểm tay; nó tự nhất quán nhưng không phải bản duy nhất. Phần "đắc vận, thất vận" phụ thuộc cách chia nguyên của từng dòng. Chúng tôi không đưa bảng cát hung của 384 hào vì không có bản chuẩn để đối chiếu.
Đại Quái, như mọi phép lý khí, là hệ quy ước; chưa có kiểm nghiệm nào cho thấy chọn quẻ này hay quẻ kia làm khác đi đời sống của người ở. Với nhà phố, hướng do lô đất quyết định và sai số đo thường lớn hơn một quẻ; giá trị thực tế của phép này nằm ở việc định hướng mộ, cửa ở đất trống, nơi đo được chính xác.
Việc nên làm
- Khi thầy nói tên quẻ của nhà bạn, hỏi số đo bằng độ, đo theo Bắc từ hay Bắc thật, và cách thầy ra quái vận.
- Nếu số đo nằm trong 1 – 2 độ quanh ranh giới hai quẻ, coi kết luận là chưa chắc.
- Muốn tự học lý khí cho nhà ở, bắt đầu bằng Phi Tinh (bài lập tinh bàn), rồi mới đọc Đại Quái.
- Với Đại Quái, xem núi và nước quanh nhà nằm ở quẻ nào, không chỉ xem cửa.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Thanh Nang Áo Ngữ — câu "Thức đắc Phụ Mẫu tam ban quái, tiện thị chân thần lộ" (nguyên văn, theo bản trong Địa Lý Biện Chính).
- Thiệu Ung — Phục Hy lục thập tứ quái phương vị đồ, theo bản in đầu Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy (dẫn đại ý cách xếp).
- Trương Tâm Ngôn — Địa Lý Biện Chính Sớ (dẫn đại ý; chưa đối chiếu bản in gốc).
- Vòng 64 quẻ, độ từng quẻ, quái vận, quái số và các ví dụ tra hướng: dựng bằng máy theo quy tắc nêu trong bài, kiểm lại tay hai tính chất tọa – hướng cùng vận, quái số cộng 10.
Câu hỏi thường gặp
Huyền Không Đại Quái là gì?
Là nhánh của phái Tam Nguyên chia la kinh thành 64 quẻ, mỗi quẻ 5,625 độ, mỗi quẻ mang một quái vận và quái số. Thầy chọn hướng đến từng quẻ và xét núi, nước quanh nhà nằm ở quẻ đắc vận hay thất vận.
Quái vận được tính thế nào?
Theo cách phổ biến, so từng hào của nội quái với ngoại quái; các hào khác nhau tạo thành một quẻ đơn, và số Tiên Thiên của quẻ đơn ấy là quái vận. Vì vậy quái vận chỉ có các số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9.
Nhà hướng 200 độ thuộc quẻ nào?
Theo vòng quẻ đặt ranh Khôn – Phục ở chính Bắc, 200 độ là quẻ Hằng (quái vận 9, quái số 8), tọa quẻ Ích. Chỉ cần lệch thêm 3 độ là sang quẻ Tốn, quái vận 1.
Thu sơn xuất sát nghĩa là gì?
Là đặt núi, nhà cao, chỗ tĩnh ở quẻ đắc vận để thu khí tốt, và để nước, đường, chỗ động ở quẻ thất vận để đẩy khí xấu ra. Quẻ nào đắc vận tùy cách chia nguyên của từng dòng.
Có nên tự xem nhà theo Đại Quái không?
Khó, vì cần đo chính xác dưới 2 độ và các dòng dùng quy tắc khác nhau. Người tự học nên bắt đầu với Phi Tinh, có sách nền và công cụ đối chiếu.
Nguồn tham khảo: Thanh Nang Áo Ngữ — tương truyền Dương Quân Tùng — câu "Thức đắc Phụ Mẫu tam ban quái" · Địa Lý Biện Chính Sớ — Trương Tâm Ngôn · Phục Hy lục thập tứ quái phương vị đồ — Thiệu Ung (qua Chu Dịch Bản Nghĩa của Chu Hy) · Vòng 64 quẻ, quái vận, quái số: dựng bằng máy theo quy tắc trình bày trong bài (viet-d5-14)