Học thuyết âm dương: bốn quy luật đối lập, hỗ căn, tiêu trưởng, chuyển hoá và cách các môn huyền học dùng chúng
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 16 phút đọc
Học thuyết âm dương cho rằng mọi sự vật đều có hai mặt vừa chống nhau vừa nương nhau, và quan hệ giữa hai mặt ấy vận động theo bốn quy luật: đối lập chế ước, hỗ căn hỗ dụng, tiêu trưởng, chuyển hoá. Đây là ngôn ngữ chung của Kinh Dịch, Đông y, lịch pháp, Tử Vi, Bát Tự và phong thuỷ.
Chữ âm, chữ dương ban đầu chỉ là hai sườn núi
Trước khi thành triết học, âm và dương là chữ địa lý. Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận đời Hán giảng đại ý: âm là chỗ tối, phía nam của sông và phía bắc của núi; dương là chỗ cao sáng. Ở nửa bắc của trái đất, mặt trời đi lệch về phía nam, nên sườn núi hướng nam được nắng, sườn hướng bắc chịu bóng. Bờ bắc của sông nhận nắng, bờ nam khuất bóng.
Dấu vết ấy còn trong tên đất. Lạc Dương nằm ở bờ bắc sông Lạc, tức phía dương của sông. Hoa Âm nằm phía bắc núi Hoa, tức phía âm của núi. Hiểu nghĩa gốc này thì thấy ngay một điều quan trọng mà nhiều bài viết bỏ qua: âm dương trước hết là quan hệ vị trí, không phải hai chất. Cùng một ngọn núi có cả hai sườn; cùng một con sông có cả hai bờ. Không có "cục âm" hay "cục dương" đứng riêng.
Bước từ địa lý sang lý thuyết vũ trụ diễn ra khá sớm. Sách Quốc Ngữ chép rằng năm thứ hai đời Chu U Vương (năm 780 trước Công nguyên), vùng ba con sông ở Tây Chu động đất, quan Bá Dương Phụ giải thích rằng khí dương bị đè xuống không thoát ra được, khí âm ép lại không bốc lên được, nên đất rung. Đây là một trong những lần sớm nhất âm dương được dùng như hai lực của tự nhiên để giải thích một hiện tượng.
Một chi tiết ít người để ý: phần kinh của Kinh Dịch, tức lời quẻ và lời hào, hầu như không dùng hai chữ này. Chữ "âm" hiện ra ở hào Cửu Nhị quẻ Trung Phu ("con hạc kêu trong bóng râm") với nghĩa bóng râm thường ngày. Phải tới phần truyện về sau, nhất là Hệ Từ, vạch liền mới được gọi là dương, vạch đứt mới được gọi là âm, và mới có câu "nhất âm nhất dương chi vị đạo". Thiên Thiên Hạ của sách Trang Tử tóm gọn: "Dịch dĩ đạo âm dương", tức Kinh Dịch là sách nói về âm dương. Câu ấy đúng với cách người đời Chiến Quốc đọc Dịch, chưa hẳn đúng với người soạn lời quẻ.
Bốn quy luật là cách xếp của giáo trình hiện đại
Sách cổ không có chương nào tên "bốn quy luật âm dương". Cách chia thành đối lập, hỗ căn, tiêu trưởng, chuyển hoá là cách các giáo trình Trung y học cơ sở nửa sau thế kỷ hai mươi gom các câu rải rác trong Nội Kinh, Kinh Dịch, Lão Tử lại cho dễ dạy. Sách Đông y Việt Nam dùng lại khung ấy.
Nói vậy không phải để chê. Khung bốn quy luật gọn và đúng tinh thần sách cổ. Nhưng biết nó là khung dạy học thì bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc Tố Vấn mà không thấy chữ "bốn quy luật", và sẽ hiểu vì sao các sách hiện đại đôi khi xếp thành năm hay sáu điểm (thêm "âm dương giao cảm", "âm dương tự hoà"). Dưới đây mỗi quy luật đi kèm câu gốc của nó và một ví dụ đời thường.
| Quy luật | Ý chính | Câu gốc thường dẫn | Ví dụ đời thường |
|---|---|---|---|
| Đối lập chế ước | Hai mặt kìm giữ nhau | "Thuỷ hoả giả, âm dương chi trưng triệu dã" (Tố Vấn) | Cơ thể vừa sinh nhiệt vừa toả nhiệt để giữ quanh 37 độ |
| Hỗ căn hỗ dụng | Mặt này là gốc của mặt kia | "Âm tại nội, dương chi thủ dã; dương tại ngoại, âm chi sứ dã" (Tố Vấn) | Đêm ngủ kém thì ngày làm việc kém |
| Tiêu trưởng | Bên này lớn thì bên kia nhỏ, theo nhịp | "Nhật vãng tắc nguyệt lai" (Hệ Từ hạ) | Ngày dài dần tới Hạ chí rồi ngắn lại |
| Chuyển hoá | Tới cực thì đổi chiều | "Trùng âm tất dương, trùng dương tất âm" (Tố Vấn) | Sốt cao lên đỉnh rồi rét run |
Quy luật một: đối lập và chế ước
Âm dương là hai mặt ngược chiều: nóng và lạnh, động và tĩnh, sáng và tối, đi lên và đi xuống, tán ra và thu vào. Nhưng chữ quan trọng là "chế ước": hai mặt không chỉ đứng đối diện mà còn kìm nhau, nhờ kìm nhau mà cả hệ không trượt về một phía.
Ví dụ dễ thấy nhất là thân nhiệt. Trời lạnh, cơ thể co mạch dưới da, run để sinh nhiệt; trời nóng, cơ thể giãn mạch, đổ mồ hôi để toả nhiệt. Hai cơ chế ngược chiều cùng chạy, mỗi bên kìm bên kia, nên thân nhiệt dao động trong một khoảng hẹp. Người xưa không biết mạch máu dưới da co giãn ra sao, nhưng mô tả đúng cái khung: một bên thắng hẳn là bệnh. Tố Vấn viết "âm thắng thì dương bệnh, dương thắng thì âm bệnh".
Điểm thứ hai của quy luật này hay bị bỏ qua: âm dương là tương đối và chia mãi được. Tố Vấn, thiên Kim Quỹ Chân Ngôn Luận, chia một ngày đêm thành bốn đoạn: từ sáng sớm tới giữa trưa là dương trong dương; từ giữa trưa tới chập tối là âm trong dương; từ chập tối tới gà gáy là âm trong âm; từ gà gáy tới sáng là dương trong âm. Cũng thiên ấy nói về thân người: lưng là dương, bụng là âm. Nghĩa là không thể hỏi "cái này âm hay dương" mà không nói "so với cái gì". Nước là âm so với lửa, nhưng nước sôi là dương so với nước đá.
Quy luật hai: hỗ căn hỗ dụng
Hỗ căn là "làm gốc cho nhau". Không có trên thì không có dưới, không có ngày thì không có khái niệm đêm. Nhưng quy luật này nói nhiều hơn chuyện định nghĩa: mặt này nuôi mặt kia.
Câu Tố Vấn trong bảng trên nói: âm ở trong để giữ cho dương, dương ở ngoài để làm việc cho âm. Hình ảnh đời thường: giấc ngủ ban đêm (âm, tĩnh, thu vào) là thứ nuôi sức làm việc ban ngày (dương, động, phát ra). Ai thức trắng vài đêm sẽ thấy ngày hôm sau đầu óc chậm hẳn. Ngược lại, người cả ngày không vận động thì tối lại khó ngủ sâu: dương không đủ thì âm cũng không thành.
Chu Đôn Di đời Tống đưa ý này vào câu nổi tiếng của Thái Cực Đồ Thuyết: "nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn", một động một tĩnh làm gốc cho nhau. Trương Cảnh Nhạc đời Minh, trong Cảnh Nhạc Toàn Thư, rút ra nguyên tắc dùng thuốc mà giới Đông y thuộc lòng, đại ý: người giỏi bổ dương thì tìm dương trong âm, người giỏi bổ âm thì tìm âm trong dương. Ở đây chúng tôi chỉ dẫn như một ví dụ về cách học thuyết đi vào nghề, không phải lời khuyên dùng thuốc.
Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận, chốt hậu quả khi hai mặt tách rời: "âm dương ly quyết, tinh khí nãi tuyệt", âm dương lìa nhau thì tinh khí cạn. Hỗ căn vì thế không phải chi tiết phụ mà là điều kiện để có sự sống.
Quy luật ba: tiêu trưởng theo nhịp
Tiêu là hao bớt, trưởng là lớn thêm. Hai mặt không đứng yên ở thế năm mươi năm mươi mà luôn bên này tăng bên kia giảm, theo nhịp. Hệ Từ hạ viết: "Nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên. Hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên." Mặt trời đi thì mặt trăng tới, lạnh đi thì nóng tới; hai bên đẩy nhau mà thành ánh sáng, thành năm.
Đây là quy luật đo được bằng con số. Tính theo vĩ độ Hà Nội, ngày Hạ chí có khoảng 13 giờ 25 phút ban ngày, ngày Đông chí khoảng 10 giờ 51 phút; chênh nhau hơn hai tiếng rưỡi. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, hai con số là khoảng 12 giờ 45 phút và 11 giờ 30 phút, chênh chỉ hơn một tiếng. Nói cách khác, nhịp tiêu trưởng ngày đêm ở miền Nam hẹp hơn miền Bắc nhiều. Đây là lý do người đọc sách dưỡng sinh theo mùa ở xứ nóng nên tham khảo thêm bài dưỡng sinh bốn mùa ở xứ nhiệt đới, vì sách cổ viết cho lưu vực Hoàng Hà, nơi bốn mùa rõ rệt.
Các nhà Dịch học đời Hán, gắn với tên Mạnh Hỷ, vẽ nhịp tiêu trưởng của năm thành mười hai quẻ, gọi là mười hai quẻ tiêu tức. Mỗi quẻ ứng một tháng; số hào dương tăng dần từ tháng Tý tới tháng Tỵ rồi số hào âm tăng dần từ tháng Ngọ tới tháng Hợi.
| Tháng (chi) | Quẻ | Hào dương / hào âm | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tý (tháng 11 âm) | Phục | 1 / 5 | Đông chí, nhất dương sinh |
| Sửu (tháng 12) | Lâm | 2 / 4 | |
| Dần (tháng giêng) | Thái | 3 / 3 | Âm dương ngang nhau, khí xuân |
| Mão (tháng 2) | Đại Tráng | 4 / 2 | |
| Thìn (tháng 3) | Quải | 5 / 1 | |
| Tỵ (tháng 4) | Càn | 6 / 0 | Dương cực thịnh |
| Ngọ (tháng 5) | Cấu | 5 / 1 | Hạ chí, nhất âm sinh |
| Mùi (tháng 6) | Độn | 4 / 2 | |
| Thân (tháng 7) | Bĩ | 3 / 3 | Ngang nhau lần nữa, khí thu |
| Dậu (tháng 8) | Quán | 2 / 4 | |
| Tuất (tháng 9) | Bác | 1 / 5 | |
| Hợi (tháng 10) | Khôn | 0 / 6 | Âm cực thịnh |
Bảng này cũng cho thấy vì sao lịch ta coi Đông Chí là điểm khởi đầu của dương và Hạ Chí là điểm khởi đầu của âm, dù Đông chí là lúc lạnh sắp tới đỉnh. Tiêu trưởng nói về chiều đi, không nói về mức đang có: ngày Đông chí trời vẫn rất lạnh, nhưng từ hôm ấy ngày bắt đầu dài ra.
Quy luật bốn: chuyển hoá khi tới cực
Tiêu trưởng là thay đổi về lượng; chuyển hoá là đổi về chất. Khi một mặt lên tới cực điểm, nó quay đầu thành mặt kia. Tố Vấn viết: "trùng âm tất dương, trùng dương tất âm" và "hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn". Lão Tử, chương 40, nói gọn hơn: "phản giả đạo chi động", trở về là cách đạo vận động. Chương 58 đưa vào đời người: "hoạ hề phúc chi sở ỷ, phúc hề hoạ chi sở phục", hoạ là chỗ phúc dựa, phúc là chỗ hoạ nấp.
Ví dụ đời thường: cơn sốt lên tới đỉnh, người bệnh đột nhiên rét run, đắp chăn vẫn lạnh; hoặc ngược lại, sau cơn rét là cơn nóng. Một ví dụ khác, ít mang màu y học: người tập thể thao nâng tải liên tục, tới một ngưỡng thì sức không tăng nữa mà giảm, vì cơ thể chưa kịp hồi. Chăm quá hoá hỏng là chuyển hoá theo đúng nghĩa.
Có một điều kiện mà người viết phổ thông hay bỏ: chuyển hoá cần chữ "cực" hoặc "trùng" (chồng lên, gấp đôi). Không phải hễ có âm là sắp thành dương. Nếu đọc lỏng quy luật này, người ta dễ biến nó thành lời an ủi chung chung, "xui rồi sẽ hết", vốn không giúp ai quyết định việc gì. Sách cổ dùng nó chặt hơn: phải nhận ra một mặt đã tới cực, rồi mới chuẩn bị cho chiều ngược lại.
Âm dương đi vào từng môn như thế nào
Đây là lý do bài này là nền của cả trụ. Mỗi môn huyền học mượn âm dương theo một cách riêng, và hiểu đúng cách mượn ấy sẽ tránh được nhiều lời giải sai.
| Môn | Âm dương được dùng để làm gì | Đọc thêm |
|---|---|---|
| Lịch pháp | Lịch ta thật ra là âm dương lịch: tháng theo Mặt Trăng, năm và tiết khí theo Mặt Trời | Lập Xuân |
| Can chi | Năm can dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), năm can âm; sáu chi dương, sáu chi âm | Mười thiên can |
| Tử Vi | Năm sinh âm hay dương cộng giới tính quyết định đại vận đi thuận hay nghịch | Lập lá số |
| Bát Tự | Cùng âm dương với nhật chủ hay khác quyết định "chính" hay "thiên" trong thập thần | Thập thần |
| Kinh Dịch | Vạch liền, vạch đứt; hào dương ở vị dương là "đắc chính" | Hào vị |
| Đông y | Âm dương đứng đầu bát cương: âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực | Ngũ hành ứng ngũ tạng |
| Phong thuỷ | Núi tĩnh thuộc âm, nước động thuộc dương; nhà ở là "dương trạch", mộ phần là "âm trạch" |
Bạn sẽ thấy hai cách dùng khác nhau trong bảng. Ở lịch, Đông y và phong thuỷ, âm dương mang nội dung: nóng lạnh, động tĩnh, sáng tối. Ở can chi, Tử Vi, Bát Tự, âm dương nhiều khi chỉ là nhãn chẵn lẻ: can thứ nhất, thứ ba, thứ năm là dương. Can Giáp không "nóng" hơn can Ất. Lẫn hai cách dùng này là nguồn của rất nhiều lời luận kiểu "người tuổi dương thì nóng tính".
Đổng Trọng Thư và chuyện "dương tôn âm ti"
Đời Hán, Đổng Trọng Thư đưa âm dương vào trật tự xã hội. Thiên Cơ Nghĩa trong Xuân Thu Phồn Lộ cho rằng nghĩa vua tôi, cha con, vợ chồng đều lấy từ đạo âm dương: vua, cha, chồng là dương; tôi, con, vợ là âm. Từ đó có thêm câu "dương tôn âm ti", dương cao âm thấp.
Đây là bước rẽ quan trọng. Hạt mầm đã có từ trước: Hệ Từ mở đầu bằng câu "thiên tôn địa ti, Càn Khôn định hĩ", trời cao đất thấp, Càn Khôn được định. Nhưng ở đó "cao thấp" chủ yếu là vị trí, và trong Tố Vấn hai mặt vẫn cần nhau ngang hàng, một bên thắng hẳn là bệnh. Đổng Trọng Thư mới biến âm dương thành một thang thứ bậc đạo đức phủ lên mọi quan hệ người. Rất nhiều câu phú về nữ mệnh, về "vợ lấn chồng", về việc người nữ tuổi dương "cứng số" có gốc từ lớp nghĩa này, chứ không từ lớp nghĩa gốc.
Lập trường của chúng tôi: dẫn lớp nghĩa đạo đức đời Hán ra để bạn thấy nó đến từ đâu, chứ không dùng nó để phán về ai. Đọc học thuyết âm dương theo đúng nghĩa gốc của nó thì chính lớp thứ bậc ấy mới là chỗ lệch: một mặt bị coi là thấp hẳn thì hệ mất cân bằng, đúng điều mà sách y gọi là bệnh.
Sách cổ nói gì
Nhất âm nhất dương chi vị đạo.
Một âm một dương, ấy gọi là đạo. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng
Bình: chữ "nhất... nhất..." ở đây là "lúc âm, lúc dương", thay phiên nhau. Đạo không nằm ở âm, cũng không nằm ở dương, mà nằm ở sự luân phiên. Câu này là lý do các môn dự đoán luôn đọc chiều đi của thời vận chứ không đọc một điểm đứng yên.
Âm dương giả, thiên địa chi đạo dã, vạn vật chi cương kỷ, biến hoá chi phụ mẫu, sinh sát chi bản thuỷ, thần minh chi phủ dã. Trị bệnh tất cầu ư bản.
Âm dương là đạo của trời đất, là giềng mối của muôn vật, là cha mẹ của biến hoá, là gốc của sinh và diệt, là nhà của thần minh. Chữa bệnh phải tìm tới gốc. — Hoàng Đế Nội Kinh, Tố Vấn, Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận
Bình: câu mở đầu thiên quan trọng nhất về âm dương của sách y. Chú ý vế cuối: ngay trong câu tôn vinh, người viết đã kéo về việc cụ thể là chữa bệnh. Âm dương ở đây là công cụ để tìm gốc vấn đề, không phải lời ca tụng.
Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hoà.
Muôn vật cõng âm mà ôm dương, nhờ khí xung hoà mà thành hài hoà. — Đạo Đức Kinh, chương 42
Bình: Lão Tử thêm một yếu tố thứ ba là "xung khí", khí ở giữa làm cho hai mặt hoà nhau. Hai chữ "phụ" (cõng sau lưng) và "bão" (ôm trước ngực) cũng cho thấy âm dương được hình dung như hai mặt của cùng một thân, không phải hai vật đứng riêng.
Đọc cho đúng mức
Âm dương là một ngôn ngữ phân loại và mô tả quan hệ, không phải một định luật vật lý có thể đo đếm. Nó giỏi ở chỗ nhắc ta nhìn hai mặt, nhìn chiều đi, nhìn ngưỡng đổi chiều. Nó không cho biết một hiện tượng cụ thể sẽ đổi chiều vào ngày nào, ở mức nào.
Cái hại thường gặp là dùng âm dương để giải thích mọi thứ sau khi sự việc đã xảy ra. Khi chuyện tốt tới, nói "dương thịnh"; khi chuyện xấu tới, nói "âm thịnh". Cách nói nào cũng khớp, nên nó chẳng dự đoán được gì. Từ hơn hai nghìn năm trước, Tư Mã Đàm, cha của Tư Mã Thiên, trong bài Luận Lục Gia Yếu Chỉ đã nhận xét về thuật âm dương rằng nó nhiều điềm lành và lắm điều kiêng, làm người ta bị bó buộc và hay sợ; nhưng cái phần sắp xếp theo thứ tự lớn của bốn mùa thì không thể bỏ. Lời nhận xét ấy đến nay vẫn là thước đo tốt: giữ phần nhịp mùa, nhịp ngày, nhịp nghỉ; bỏ phần kiêng kỵ vụn.
Về nguồn gốc, có nhà nghiên cứu Việt Nam như Trần Ngọc Thêm cho rằng tư duy âm dương có gốc ở văn hoá nông nghiệp lúa nước phương Nam. Đây là một giả thuyết đáng đọc, nhưng chưa phải kết luận được giới nghiên cứu thống nhất; văn bản sớm nhất có lý thuyết âm dương mà ta còn giữ được đều là văn bản Hán văn ở lưu vực Hoàng Hà. Bạn nên coi cả hai phía là luận điểm cần bằng chứng, không phải điều để tự hào hay phủ nhận.
Cuối cùng, bốn quy luật không phải bốn "định luật" độc lập. Chúng là bốn góc nhìn vào cùng một quan hệ. Bài nào dùng chúng như bốn công thức tách rời để "chứng minh" điều gì đó là đã dùng quá tay.
Các bài trong chuyên mục âm dương ngũ hành
Bài này là trang mở đầu. Các bài dưới đi sâu từng phần, nên đọc theo thứ tự:
- Thái cực đồ: từ Thái Cực Đồ Thuyết của Chu Đôn Di đến hình cá âm dương
- Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng
- Hồng Phạm Cửu Trù: lần đầu ngũ hành xuất hiện trong văn bản
- Âm Dương gia và Trâu Diễn: thuyết ngũ đức chung thuỷ
- Ngũ hành không phải "năm nguyên tố": hành là quá trình
- Ngũ hành tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ
- Bảng ngũ hành phối vạn vật
- Vượng, tướng, hưu, tù, tử theo mùa
- Thiên can ngũ hợp và hoá khí
Việc nên làm
- Khi đọc bất kỳ lời luận nào có chữ âm dương, hỏi ngay "so với cái gì". Câu không trả lời được câu hỏi đó thường là câu rỗng.
- Phân biệt âm dương có nội dung (nóng lạnh, động tĩnh) với âm dương làm nhãn chẵn lẻ (can, chi). Đừng suy tính cách từ nhãn chẵn lẻ.
- Dùng quy luật tiêu trưởng cho việc thật: ghi lại nhịp ngủ, nhịp làm việc, nhịp nghỉ của mình trong vài tuần, rồi xem chỗ nào một mặt đang lấn hẳn mặt kia.
- Gặp câu phú dựa trên "dương tôn âm ti" để nói về phụ nữ, đọc nó như tư liệu lịch sử, không như lời phán.
- Muốn thấy âm dương đi vào lá số của mình ra sao, xem năm sinh âm hay dương và chiều đại vận trên lá số, rồi đọc tiếp bài về Tử Vi.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Chu Dịch — Hệ Từ truyện thượng và hạ; quẻ Trung Phu, hào Cửu Nhị
- Hoàng Đế Nội Kinh, Tố Vấn — Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận; Kim Quỹ Chân Ngôn Luận; Sinh Khí Thông Thiên Luận
- Đạo Đức Kinh — chương 40, 42, 58
- Quốc Ngữ — Chu Ngữ thượng, lời Bá Dương Phụ
- Trang Tử — thiên Thiên Hạ
- Hứa Thận — Thuyết Văn Giải Tự, mục chữ âm, chữ dương (đại ý)
- Đổng Trọng Thư — Xuân Thu Phồn Lộ, thiên Cơ Nghĩa (đại ý)
- Chu Đôn Di — Thái Cực Đồ Thuyết
- Trương Cảnh Nhạc — Cảnh Nhạc Toàn Thư (đại ý)
- Tư Mã Thiên — Sử Ký, Thái Sử Công tự tự, phần Luận Lục Gia Yếu Chỉ của Tư Mã Đàm (đại ý)
- Trần Ngọc Thêm — Cơ sở văn hoá Việt Nam (luận điểm về gốc nông nghiệp của tư duy âm dương)
- Số giờ ban ngày tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: tính theo công thức thiên văn chuẩn cho vĩ độ 21 và 10,8 độ bắc, có hiệu chỉnh khúc xạ
Câu hỏi thường gặp
Âm dương là gì, nói ngắn gọn?
Âm dương là hai mặt ngược chiều nhưng nương nhau của cùng một sự vật, như sáng và tối, động và tĩnh. Nghĩa gốc của hai chữ là sườn núi khuất nắng và sườn núi được nắng, nên âm dương luôn là quan hệ so sánh, không phải hai chất riêng.
Bốn quy luật âm dương có trong sách cổ không?
Ý của từng quy luật có trong Kinh Dịch, Hoàng Đế Nội Kinh và Đạo Đức Kinh. Còn việc xếp thành đúng bốn quy luật là cách làm của giáo trình Đông y hiện đại để dạy cho gọn.
Người tuổi dương có nóng tính hơn người tuổi âm không?
Không có căn cứ trong sách gốc. Trong can chi, âm dương của năm sinh chủ yếu là nhãn chẵn lẻ, dùng để tính chiều đại vận và một số quan hệ, không mô tả tính khí.
Vì sao Đông chí lạnh nhất mà lại gọi là nhất dương sinh?
Vì âm dương ở đây nói về chiều đi chứ không nói về mức đang có. Từ Đông chí, ngày bắt đầu dài ra, phần dương bắt đầu tăng, dù cái lạnh còn kéo dài thêm một thời gian.
Âm dương có phải là khoa học không?
Âm dương không phải định luật đo được như trong vật lý. Nó là một ngôn ngữ mô tả quan hệ và nhịp biến đổi, có ích khi dùng để quan sát, nhưng không đủ để dự đoán một sự việc cụ thể sẽ xảy ra lúc nào.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Hệ Từ truyện — Hệ Từ thượng: nhất âm nhất dương chi vị đạo; Hệ Từ hạ: nhật vãng tắc nguyệt lai · Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn — Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận; Kim Quỹ Chân Ngôn Luận; Sinh Khí Thông Thiên Luận · Đạo Đức Kinh — chương 40, 42, 58 · Quốc Ngữ — Chu Ngữ thượng — lời Bá Dương Phụ về động đất năm thứ hai đời Chu U Vương · Thuyết Văn Giải Tự — Hứa Thận — mục chữ âm, chữ dương · Xuân Thu Phồn Lộ — Đổng Trọng Thư — thiên Cơ Nghĩa · Giáo trình Trung y học cơ sở (Trung Quốc, nửa sau thế kỷ hai mươi) — nơi bốn quy luật được xếp thành hệ