Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác: năm quẻ "khó" và lời khuyên nằm sẵn trong chính lời quẻ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Kinh Dịch không có quẻ "xấu nhất". Năm quẻ hay bị gọi là xấu là Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác, nhưng Đại Tượng của cả năm đều kèm một cách ứng xử, ba trong năm lời quẻ có chữ "hanh" hoặc "cát", và quẻ Kiển không có hào nào mang chữ "hung". Quẻ khó là thời khó, không phải bản án.
Bài này không làm dịu năm quẻ cho dễ nghe. Nó đặt lời quẻ, Đại Tượng và lời hào của từng quẻ lên bàn, để bạn tự thấy chỗ nào thật sự khó, và chỗ nào Kinh đã viết sẵn lối ra.
Năm quẻ, năm kiểu khó
Năm quẻ này không khó giống nhau. Đặt cạnh nhau thì thấy mỗi quẻ tả một loại thời khác hẳn:
| Quẻ | Hình | Kiểu khó | Lời quẻ |
|---|---|---|---|
| Bĩ (12) | trời trên, đất dưới | bế tắc: trên dưới không thông, người tốt không được dùng | Bĩ chi phỉ nhân, bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai |
| Khảm (29) | nước trên nước | hiểm chồng hiểm: rơi vào chỗ trũng, ra khỏi hố này gặp hố khác | Tập Khảm, hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượng |
| Kiển (39) | nước trên núi | khó đi: trước mặt là nước, sau lưng là núi | Kiển, lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc; lợi kiến đại nhân, trinh cát |
| Khốn (47) | đầm trên, nước dưới | cạn kiệt, bị vây: đầm mất nước, nói không ai tin | Khốn, hanh, trinh, đại nhân cát, vô cữu; hữu ngôn bất tín |
| Bác (23) | núi trên, đất dưới | bị bào mòn: năm hào âm đẩy một hào dương lên đỉnh | Bác, bất lợi hữu du vãng |
Nhìn cột cuối: chỉ Bĩ và Bác có lời quẻ thuần nói điều không lợi. Khảm có "duy tâm hanh", lòng thì thông. Kiển có "trinh cát", giữ chính thì tốt. Khốn còn lạ hơn: chữ đầu tiên sau tên quẻ là "hanh", thông, rồi mới đến "hữu ngôn bất tín", có nói cũng không ai tin. Người gieo được Khốn mà chỉ nghe tên quẻ là đã bỏ mất chữ thứ hai của lời quẻ.
Thang chữ cát, hung, hối, lận, vô cữu nên hiểu ra sao, xem ở bài cát hung hối lận.
Đại Tượng: mỗi quẻ khó đi kèm một việc phải làm
Đại Tượng là câu mở bằng tượng của hai quẻ đơn, rồi nói người quân tử nhân đó làm gì. Ở năm quẻ khó, phần "làm gì" chính là lời khuyên:
| Quẻ | Đại Tượng | Dịch | Việc phải làm |
|---|---|---|---|
| Bĩ | Thiên địa bất giao, Bĩ; quân tử dĩ kiệm đức tị nạn, bất khả vinh dĩ lộc | Trời đất không giao là Bĩ; quân tử thu đức lại để tránh nạn, không thể lấy bổng lộc làm vinh | thu mình, không nhận vinh hoa của thời bế tắc |
| Khảm | (nước đến liên tiếp), tập Khảm; quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự | quân tử giữ đức hạnh cho thường, luyện việc dạy dỗ | giữ nếp, luyện cho quen |
| Kiển | Sơn thượng hữu thủy, Kiển; quân tử dĩ phản thân tu đức | Trên núi có nước là Kiển; quân tử quay lại xét mình, sửa đức | quay vào trong |
| Khốn | Trạch vô thủy, Khốn; quân tử dĩ trí mệnh toại chí | Đầm không có nước là Khốn; quân tử dốc cả mạng sống để thành chí mình | giữ chí đến cùng |
| Bác | Sơn phụ ư địa, Bác; thượng dĩ hậu hạ an trạch | Núi sạt bám vào đất là Bác; người trên làm dày cho kẻ dưới để yên chỗ ở | bồi nền móng |
Có hai chi tiết đáng dừng. Thứ nhất, Đại Tượng quẻ Bác không nói "quân tử" mà nói "thượng", người ở trên. Núi sạt là do chân núi mỏng; người ở trên muốn không đổ thì phải làm dày phía dưới. Đây là lời khuyên cho người cầm quyền, người chủ nhà, người lãnh đạo, chứ không phải cho kẻ yếu.
Thứ hai, ba quẻ Bĩ, Kiển, Khốn đều có nước hoặc khí không đi đúng chỗ: trời đất không giao, nước nằm trên núi, nước thoát xuống dưới đầm. Lời khuyên của ba quẻ lại hướng vào bên trong: thu đức, xét mình, giữ chí. Khi đường bên ngoài bị chặn, Dịch không bảo húc vào, mà bảo dời việc vào chỗ mình còn làm chủ được.
Bảng hào: trong quẻ khó, hào nào được lời tốt
Đây là phần người đọc ít khi được chỉ. Lời cát hung nằm chủ yếu ở hào, và trong năm quẻ khó có không ít hào lời rất tốt:
| Quẻ | Hào được lời tốt | Lời hào | Đại ý |
|---|---|---|---|
| Bĩ | Cửu ngũ | Hưu Bĩ, đại nhân cát. Kỳ vong kỳ vong, hệ vu bao tang | dừng được thế bế tắc, người lớn tốt; luôn nhắc "sắp mất rồi" mà buộc chặt vào gốc dâu |
| Bĩ | Thượng cửu | Khuynh Bĩ, tiên Bĩ hậu hỷ | lật đổ thế bế tắc, trước tắc sau mừng |
| Khảm | Cửu ngũ | Khảm bất doanh, chỉ ký bình, vô cữu | hố chưa đầy, nhưng đã gần bằng, không lỗi |
| Khảm | Lục tứ | Tôn tửu quỹ nhị, dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu | một chén rượu, hai bát cơm, đựng bằng đồ sành, đưa lời ước qua cửa sổ, cuối cùng không lỗi |
| Kiển | Cửu ngũ | Đại kiển bằng lai | khó lớn thì bạn đến |
| Kiển | Thượng lục | Vãng kiển lai thạc, cát, lợi kiến đại nhân | đi thì khó, quay lại thì lớn, tốt |
| Khốn | Cửu nhị | Khốn vu tửu thực, chu phất phương lai, lợi dụng hưởng tự | khốn trong rượu thịt, dải áo đỏ sắp tới, lợi dùng việc tế lễ |
| Khốn | Thượng lục | …viết động hối hữu hối, chinh cát | tự bảo "động thì ăn năn", có ăn năn rồi thì đi được, tốt |
| Bác | Lục ngũ | Quán ngư, dĩ cung nhân sủng, vô bất lợi | xâu cá thành chuỗi, dẫn cung nhân theo thứ tự mà được yêu, không gì không lợi |
| Bác | Thượng cửu | Thạc quả bất thực, quân tử đắc dư | quả lớn không bị ăn, người quân tử được xe |
Quy luật lộ ra khá rõ: hào trên cùng và hào năm của quẻ khó thường được lời tốt. Hào năm là ngôi chủ, người có vị trí để xoay chuyển; hào trên cùng là lúc thời khó đi đến cùng và bắt đầu chuyển. Ngược lại, hào dưới cùng thường là lúc khó mới bắt đầu, người còn ở chỗ thấp nhất: Khảm sơ lục "nhập vu Khảm đạm, hung", vào cái hố trong hố; Bác sơ lục "Bác sàng dĩ túc", giường bị bào từ chân.
Riêng Kiển đáng nói thêm. Sáu hào của Kiển dùng đi dùng lại một khuôn: "vãng kiển lai dự" (đi thì khó, về thì được khen), "vãng kiển lai phản" (đi thì khó, về thì trở lại chỗ mình), "vãng kiển lai liên" (đi thì khó, về thì liên kết được), "vãng kiển lai thạc" (đi thì khó, về thì lớn). Không hào nào có chữ "hung". Quẻ Kiển dạy một việc duy nhất, nói bốn lần bằng bốn cách: khi đường trước mặt khó, quay về chỗ mình đứng mà gom sức, gom người.
Ba câu Thoán truyện nên thuộc
Thoán truyện là lời giải lời quẻ. Ở ba quẻ trong nhóm, nó nói thẳng điều mà tên quẻ che mất:
- Kiển: "Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai", thấy hiểm mà biết dừng, khôn thay. Dừng ở đây không phải bỏ cuộc mà là không lao vào nước khi trước mặt là nước.
- Khốn: "Khốn nhi bất thất kỳ sở hanh, kỳ duy quân tử hồ", gặp khốn mà không mất cái chỗ thông của mình, chỉ có người quân tử chăng. Cái "hanh" của lời quẻ Khốn là thông ở bên trong, không phải thông ở hoàn cảnh.
- Bác: "Quân tử thượng tiêu tức doanh hư, thiên hành dã", người quân tử coi trọng lẽ tiêu và lớn, đầy và vơi; đó là đường đi của trời. Bác là quẻ tháng Chín trong vòng mười hai quẻ Tiêu Tức: âm đã lấn gần hết, nhưng ngay sau đó là Khôn rồi Phục, dương sinh lại.
Tự Quái truyện nối Bác sang Phục bằng một câu: "Vật bất khả dĩ chung tận, Bác cùng thượng phản hạ, cố thụ chi dĩ Phục", vật không thể hết hẳn, bào đến tận trên thì quay về dưới, nên tiếp bằng Phục. Hào dương còn sót trên đỉnh Bác, "quả lớn không bị ăn", chính là hạt giống rơi xuống thành hào dương đầu tiên của Phục.
Bĩ không đứng một mình
Bĩ là quẻ khó duy nhất trong năm quẻ có một quẻ "đối" nổi tiếng hơn nó: Thái. Hai quẻ là một cặp lật ngược, và câu "bĩ cực thái lai" người Việt nói hằng ngày được dựng từ hào trên cùng của Bĩ. Cách hai quẻ soi vào nhau, vì sao trời trên đất dưới lại là bế tắc, được bàn riêng ở bài Thái và Bĩ.
Ở đây chỉ nói một điều: lời hào cửu ngũ quẻ Bĩ, "kỳ vong kỳ vong, hệ vu bao tang", được Hệ Từ hạ dẫn lại để giảng về sự cẩn trọng. Đại ý: kẻ gặp nguy là kẻ tưởng ngôi mình yên; người quân tử lúc yên không quên nguy, lúc còn không quên mất. Đứng ở chỗ vừa dừng được bế tắc mà vẫn tự nhắc "sắp mất rồi", ấy là cách buộc mình vào gốc dâu cho chắc.
Sách cổ nói gì
Khốn, đức chi biện dã… Khốn cùng nhi thông… Khốn dĩ quả oán.
Khốn là chỗ phân biệt đức… Khốn thì cùng mà thông… Khốn để bớt oán hận. — Chu Dịch, Hệ Từ truyện hạ, đoạn chín quẻ tu đức
Bình: đoạn này nêu chín quẻ, mỗi quẻ nói ba lần theo ba góc. Khốn được gọi là "đức chi biện", chỗ phân biệt đức: lúc thuận ai cũng giống nhau, lúc khốn mới thấy ai giữ được mình. "Khốn dĩ quả oán" là vế đáng thuộc nhất: thời khốn, việc của người quân tử là bớt oán trời trách người.
Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai.
Thấy hiểm mà biết dừng, khôn thay. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Kiển
Bình: trong Dịch, chữ "chỉ" (dừng) là tính của quẻ Cấn, núi. Quẻ Kiển có Cấn ở dưới, nên người trong quẻ có sẵn đức dừng; khó là ở chỗ dám dùng nó khi ai cũng muốn đi tiếp.
Vương Bật khi chú quẻ Khốn có ý, đại ý: ở thời khốn mà vẫn nói nhiều để mong người tin là tự làm mình cùng thêm; lời quẻ "hữu ngôn bất tín" là bảo người quân tử lúc ấy nên dùng việc làm thay lời nói.
Đọc cho đúng mức
Không có danh sách "quẻ xấu" chính thức. Năm quẻ trong bài là nhóm hay bị gọi xấu trong sách phổ thông và trên mạng; có sách còn kể Truân, Minh Di, Độn, Tụng. Kinh văn không xếp loại quẻ, chỉ ghi lời cho từng quẻ, từng hào.
Lời tốt ở hào không phải lời an ủi. Bảng hào ở trên không nhằm nói "quẻ khó mà vẫn tốt". Nó cho thấy trong cùng một thời khó, vị trí và cách xử khác nhau thì kết quả khác nhau. Người ở hào đầu quẻ Khảm và người ở hào năm quẻ Khảm cùng ở thời hiểm mà lời hai bên trái nhau.
Các phái đọc khác nhau. Phái tượng số giải "lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc" của Kiển theo phương vị hậu thiên (Tây Nam là Khôn, đất bằng; Đông Bắc là Cấn, núi), phái nghĩa lý đọc là "đi chỗ dễ, tránh chỗ hiểm". Trong Lục Hào, quẻ được đánh giá bằng dụng thần và ngày tháng, tên quẻ hầu như không quyết định gì.
Gieo ra quẻ khó không phải lý do để gieo lại. Gieo lại cho tới khi ra quẻ đẹp là lỗi người xưa đã răn từ lời quẻ Mông; xem bài gieo lại quẻ.
Việc nên làm
- Gieo ra một trong năm quẻ này, đọc ngay Đại Tượng và viết ra giấy "việc phải làm" của quẻ đó bằng lời của mình.
- Xem hào động nằm ở đâu: hào dưới thường là lúc khó mới bắt đầu, nên giữ mình; hào năm, hào trên thường là lúc có thể xoay chuyển.
- Gặp Kiển: thôi tìm đường vòng ra ngoài, quay về gom người, gom sức; lời hào nói "khó lớn thì bạn đến".
- Gặp Khốn: bớt giải thích, bớt than; làm việc cụ thể cho người khác thấy.
- Gặp Bác: xem lại nền móng, chỗ dưới cùng của việc mình (sức khoẻ, tiền dự phòng, người giúp việc), làm dày nó trước khi tính chuyện đi tiếp.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch, quẻ Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác: lời quẻ, lời hào, Đại Tượng (trích nguyên văn; chữ đầu Đại Tượng quẻ Khảm dịch theo nghĩa, lời thượng lục quẻ Khốn trích phần cuối).
- Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Kiển, Khốn, Bác (trích nguyên văn).
- Chu Dịch, Hệ Từ truyện hạ: đoạn chín quẻ tu đức (trích nguyên văn ba câu về Khốn); lời bàn hào cửu ngũ quẻ Bĩ (dẫn đại ý).
- Chu Dịch, Tự Quái truyện: câu nối Bác sang Phục (trích nguyên văn).
- Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ, Chu Dịch Chính Nghĩa: lời chú quẻ Khốn (dẫn đại ý).
Câu hỏi thường gặp
Quẻ nào xấu nhất trong Kinh Dịch?
Kinh Dịch không xếp quẻ theo tốt xấu. Năm quẻ hay bị gọi xấu là Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác, nhưng mỗi quẻ đều có Đại Tượng chỉ cách ứng xử và có những hào được lời tốt.
Quẻ Thủy Sơn Kiển có phải quẻ xấu không?
Kiển là quẻ của lúc đường đi khó, nhưng lời quẻ có "trinh cát" và sáu hào không hào nào mang chữ hung. Cả sáu hào lặp một ý: đi thì khó, quay về gom sức thì được.
Gieo được quẻ Trạch Thủy Khốn nên làm gì?
Đại Tượng khuyên giữ chí đến cùng, Thoán truyện khuyên đừng mất chỗ thông bên trong, lời quẻ nhắc rằng lúc này nói ít người tin. Nên làm việc cụ thể hơn là giải thích.
Vì sao Đại Tượng quẻ Bác nói "người trên" chứ không nói "quân tử"?
Vì hình núi sạt vào đất được đọc là cái cao bị mòn từ chân. Lời khuyên dành cho người ở trên: muốn không đổ thì làm dày cho người dưới, bồi nền móng.
Quẻ khó có hào nào tốt không?
Có nhiều. Ví dụ Bĩ thượng cửu "trước tắc sau mừng", Kiển cửu ngũ "khó lớn thì bạn đến", Bác thượng cửu "quả lớn không bị ăn". Hào năm và hào trên cùng của quẻ khó thường được lời tốt.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — quẻ Bĩ, Khảm, Kiển, Khốn, Bác — lời quẻ, lời hào, Đại Tượng, Thoán truyện · Chu Dịch — Hệ Từ truyện hạ — đoạn chín quẻ tu đức: Khốn, đức chi biện dã · Khốn cùng nhi thông · Chu Dịch — Tự Quái truyện — Bác cùng thượng phản hạ, cố thụ chi dĩ Phục · Chu Dịch Chính Nghĩa — Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ