Quẻ Thủy Sơn Kiển (39): thấy hiểm mà biết dừng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 39
39. Thủy Sơn Kiển
Khảm trên · Cấn dưới
Thủy Sơn Kiển

Gian nan, trước núi sau nước; quay lại sửa mình.

Thủy Sơn Kiển là quẻ thứ 39, Khảm (nước, hiểm) ở trên, Cấn (núi) ở dưới: đã leo núi lại gặp nước chặn trên đỉnh. Kiển là đi khó, chân bước tập tễnh. Lời quẻ: lợi Tây Nam, không lợi Đông Bắc, lợi gặp bậc đại nhân, giữ chính thì tốt. Thoán truyện khen một điều: thấy hiểm mà biết dừng là khôn.

Tượng quẻ: hiểm ở trước, dừng ở trong

Khảm là hiểm, nằm ở quẻ ngoài, tức phía trước mặt. Cấn là dừng, nằm ở quẻ trong, tức chính mình. Hình quẻ đã chứa sẵn lời khuyên: hiểm thì ở ngoài kia, còn phần mình là biết đứng lại.

Thoán truyện: "Kiển, nạn dã, hiểm tại tiền dã. Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai." Kiển là nạn, hiểm ở phía trước; thấy hiểm mà dừng được, khôn thay. Người sau hay xếp Kiển với Truân, Khảm, Khốn vào nhóm quẻ khó, nhưng trong bốn quẻ ấy Kiển là quẻ khen sự dừng lại nhiều nhất.

Lời quẻ: Tây Nam và Đông Bắc

Lời quẻ: "Kiển, lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc; lợi kiến đại nhân, trinh cát." Theo cách xếp tám quẻ của Hậu Thiên, Tây Nam là Khôn, đất bằng; Đông Bắc là Cấn, núi. Đang gặp khó thì đi đường bằng, đừng leo thêm núi. Thoán giải đại ý: đi Tây Nam thì được chỗ giữa, đi Đông Bắc thì đường cùng.

Cụm "lợi Tây Nam" còn gặp ở lời quẻ Khôn và quẻ Giải đứng ngay sau. Không nên đọc thành chỉ dẫn hướng đi trên bản đồ; nó là ẩn dụ chọn đường dễ, chỗ có người.

Câu kết của Thoán: "Kiển chi thời dụng đại hĩ tai", cái dụng của thời Kiển lớn thay. Khó là lúc người ta tìm ra người cùng đi.

Đại Tượng: quay về sửa mình

Sơn thượng hữu thủy, Kiển; quân tử dĩ phản thân tu đức.

Trên núi có nước là Kiển; người quân tử nhân đó quay lại xét mình mà sửa đức. Mạnh Tử có câu cùng tinh thần: "Hành hữu bất đắc giả, giai phản cầu chư kỷ", làm mà không được thì đều quay về tìm ở mình. Không phải tự trách, mà là tìm phần mình còn sửa được, vì phần của người thì mình không sửa thay.

Sáu hào: đi thì khó, về thì được

Sáu lời hào của Kiển có một mô thức rất rõ: "vãng kiển, lai…", đi thì gặp khó, quay về thì được điều gì đó.

Sơ lục — "Vãng kiển, lai dự"

Đi thì khó, về thì được khen. Ở đầu cuộc khó, biết dừng sớm là điều đáng khen.

Lục nhị — "Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố"

Bề tôi của vua khó chồng lên khó, không phải vì việc riêng mình. Hào duy nhất không có chữ "lai": người gánh trách nhiệm chung thì cứ đi vào khó, kinh không trách mà còn nói rõ đây không phải lỗi họ.

Cửu tam — "Vãng kiển, lai phản"

Đi thì khó, về thì trở lại chỗ mình. Hào dương duy nhất của quẻ dưới, hai hào âm bên dưới nương vào nó; quay về là quay về với người cần mình.

Lục tứ — "Vãng kiển, lai liên"

Đi thì khó, về thì nối kết được. Đứng một mình không qua nổi, liên kết với người khác thì qua.

Cửu ngũ — "Đại kiển, bằng lai"

Khó lớn, bạn tới. Ngôi tôn trung chính, gặp nạn lớn nhất nhưng cũng là chỗ bạn bè tìm tới đông nhất.

Thượng lục — "Vãng kiển, lai thạc, cát; lợi kiến đại nhân"

Đi thì khó, về thì làm được việc lớn, tốt; lợi gặp bậc đại nhân. Cuối thời khó, quay về giúp hào năm thì thành công lớn.

Gieo được Kiển thì đọc thế nào

Việc làm. Trở ngại là thật, đừng đâm đầu qua. Mô thức sáu hào gợi ba việc: dừng lại, củng cố phía sau, tìm người cùng gánh. Gặp người có kinh nghiệm hơn là đúng lời quẻ "lợi kiến đại nhân".

Quan hệ. Lúc cần đồng minh hơn là cần thắng. Lục tứ và cửu ngũ đều nói về người tới với mình khi mình chịu mở lời.

Việc chờ đợi. Chậm. Riêng việc đang làm vì người khác, như hào hai, thì vẫn nên gánh tiếp dù khó.

Gặp Kiển không có nghĩa là thất bại; nó chỉ cho biết đường trước mặt đang dốc và cách đi đường dốc.

Quẻ trước, quẻ sau và các quẻ liên quan

Tự Quái truyện, đại ý: trái lìa thì ắt có nạn, nên sau Hỏa Trạch Khuê là Kiển; vật không thể khó mãi, nên sau Kiển là Lôi Thủy Giải, cởi gỡ.

  • Quẻ đảo: Giải. Lật ngược hình thì Cấn thành Chấn và lên trên, Khảm xuống dưới; nạn và lúc nạn được tháo.
  • Quẻ đối: Khuê. Lòng trái nhau và đường khó đi là hai mặt của nhau.
  • Quẻ hỗ: Hỏa Thủy Vị Tế, việc chưa qua sông. Bên trong cái khó là việc còn dở dang.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Tây Nam, Đông Bắc trong quẻ Kiển có phải chỉ hướng đi thật?

Nhà chú đọc theo tượng: Tây Nam là đất bằng (Khôn), Đông Bắc là núi (Cấn). Ý là chọn đường dễ và chỗ có người, không phải chọn hướng trên la bàn.

Vì sao chỉ hào hai không được khuyên quay về?

Hào hai là người gánh việc chung, "không phải vì mình". Kinh coi cái khó ấy là bổn phận nên không bảo lui.

Kiển khác Khốn thế nào?

Kiển là đường phía trước khó, mình còn chọn dừng hay đi được. Khốn là đã bị vây, nguồn lực cạn, lời nói không ai tin.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Kiển — lời quẻ, lời sáu hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện — Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai; Sơn thượng hữu thủy · Mạnh Tử — Ly Lâu thượng — Hành hữu bất đắc giả, giai phản cầu chư kỷ · Chu Dịch — Tự Quái truyện

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế