Quẻ Địa Sơn Khiêm (15): núi nằm dưới đất, sáu hào không một lời xấu

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 15
15. Địa Sơn Khiêm
Khôn trên · Cấn dưới
Địa Sơn Khiêm

Núi ở dưới đất; có mà không tự cho là có, sáu hào không hào nào xấu.

Địa Sơn Khiêm là quẻ số 15: Khôn (đất) ở trên, Cấn (núi) ở dưới. Khiêm là có mà không tự cho là có, cao mà chịu ở chỗ thấp. Lời quẻ nói thông, người quân tử có kết cục tốt. Sáu lời hào không có một chữ xấu, hối hay tiếc nào. Nhưng đọc kỹ thì Khiêm không phải nhún nhường vô điều kiện: hai hào trên cùng đều nói tới việc dùng quân.

Tượng quẻ: núi giấu mình trong lòng đất

Núi là thứ cao nhất trên mặt đất, vậy mà ở quẻ này núi nằm dưới đất. Đại Tượng gọi đó là "địa trung hữu sơn", trong đất có núi. Cái cao không mất đi, chỉ không phô ra. Cấn còn có nghĩa là dừng: bên trong biết dừng, bên ngoài thuận theo, đó là tính của người khiêm.

Chủ của quẻ là Cửu Tam, hào dương duy nhất, nằm ở trên cùng quẻ dưới, giữa năm hào âm. Người có thực lực duy nhất của cả quẻ lại đứng ở vị trí khiêm tốn. Hệ Từ thượng giảng hào này: "lao nhi bất phạt, hữu công nhi bất đức, hậu chi chí dã", khó nhọc mà không khoe, có công mà không coi là ơn mình ban, thật là dày đặn.

Hệ Từ hạ đặt Khiêm ngay sau Lý trong chuỗi chín quẻ về đức: "Lý, đức chi cơ dã; Khiêm, đức chi bính dã". Lý là nền, Khiêm là cán, tức chỗ để cầm nắm mọi đức khác.

Lời quẻ và Thoán truyện

Khiêm: hanh, quân tử hữu chung.

Thông; người quân tử có kết cục. Chữ "chung" đáng giá: nhiều quẻ tốt ở đầu mà không chắc ở cuối, Khiêm thì được hứa một cái kết trọn.

Thoán truyện có đoạn được trích nhiều bậc nhất về quẻ này:

Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm, địa đạo biến doanh nhi lưu khiêm, quỷ thần hại doanh nhi phúc khiêm, nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm.

Đạo trời làm vơi cái đầy mà thêm cho cái khiêm; đạo đất làm đổi cái đầy mà chảy về chỗ khiêm; quỷ thần làm hại cái đầy mà ban phúc cho cái khiêm; đạo người ghét cái đầy mà ưa cái khiêm. Rồi kết: "Khiêm tôn nhi quang, ti nhi bất khả du", khiêm ở ngôi cao thì càng sáng, ở chỗ thấp thì không ai vượt qua được.

Đại Tượng

Địa trung hữu sơn, Khiêm; quân tử dĩ bầu đa ích quả, xứng vật bình thi.

Người quân tử theo đó bớt chỗ nhiều, thêm chỗ ít, cân nhắc mọi vật mà chia cho công bằng. Đại Tượng không dạy khiêm như một thái độ cá nhân, mà như một cách phân phối: đất bồi chỗ trũng, san chỗ cao. Người khiêm thật thì biết chỗ nào đang thừa, chỗ nào đang thiếu.

Sáu hào

Sơ Lục. "Khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát." Khiêm lại càng khiêm, dùng đức ấy mà qua sông lớn, tốt. Ở chỗ thấp nhất mà vẫn khiêm, nên việc khó cũng có người giúp qua.

Lục Nhị. "Minh khiêm, trinh cát." Tiếng khiêm vang ra ngoài, giữ chính thì tốt. Khiêm từ bên trong nên người khác tự nhận ra, không cần nói.

Cửu Tam. "Lao khiêm, quân tử hữu chung, cát." Có công lao mà khiêm, người quân tử có kết cục, tốt. Lời hào lặp lại nguyên câu của lời quẻ: hào này là linh hồn của quẻ.

Lục Tứ. "Vô bất lợi, huy khiêm." Không gì không lợi, đem đức khiêm toả ra. Đứng giữa người có công ở dưới và người có ngôi ở trên, hào này khiêm cả hai phía.

Lục Ngũ. "Bất phú dĩ kỳ lân, lợi dụng xâm phạt, vô bất lợi." Không cậy giàu mà vẫn được láng giềng theo, lợi dùng việc chinh phạt, không gì không lợi. Khiêm ở ngôi vua không có nghĩa là để người khác lấn; với kẻ không phục lẽ phải thì vẫn phải cứng.

Thượng Lục. "Minh khiêm, lợi dụng hành sư, chinh ấp quốc." Tiếng khiêm vang, lợi dùng quân, nhưng là để dẹp yên ngay ấp nước của mình. Khiêm đến cuối thì quay về sửa chính mình, không đi chinh phạt ai.

Gieo được quẻ Khiêm nên đọc thế nào

  • Việc làm: lúc này người có thực lực mà không cần tranh tiếng. Cửu Tam là mẫu: làm nhiều, nói ít, để công cho việc chung. Lục Ngũ nhắc khiêm không phải nhượng hết: việc sai thì vẫn phải dứt khoát.
  • Quan hệ: Đại Tượng gợi một câu tự hỏi rất cụ thể: trong mối này mình đang nhận nhiều hơn hay cho nhiều hơn, phần nào cần cân lại. Khiêm thật là thấy được chỗ lệch ấy.
  • Việc đang chờ: "quân tử hữu chung" là lời nói về cái kết của người giữ đức, không phải lời hẹn ngày. Gieo được Khiêm trong lúc chờ, việc nên làm là tiếp tục phần mình cho bền.

Khiêm thường được xếp vào nhóm những quẻ được coi là tốt nhất, nhưng cái tốt ấy đến từ cách sống, không đến từ tên quẻ.

Khiêm đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ

Quẻ liền trước là Hỏa Thiên Đại Hữu (14): có lớn thì không được để đầy tràn. Tự Quái đi tiếp: có lớn mà biết khiêm thì ắt vui, nên sau Khiêm là Lôi Địa Dự (16).

Lật ngược Khiêm ra Dự, đó là quẻ đảo. Tạp Quái truyện đặt cặp này trong một câu: "Khiêm khinh nhi Dự đãi dã", Khiêm là tự coi nhẹ mình, Dự là dễ sinh lười nhác. Đổi hết hào ra quẻ đối Thiên Trạch Lý (10), cặp nền và cán của đức. Quẻ hỗ là Lôi Thủy Giải (40), cởi gỡ: khiêm làm tan nhiều nút thắt giữa người với người.

☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Có phải quẻ Khiêm sáu hào đều tốt?

Sáu lời hào quẻ Khiêm không có chữ hung, hối hay lận nào. Các nhà chú giải thường nêu Khiêm là quẻ độc nhất có đặc điểm ấy.

Khiêm có phải là nhường nhịn mọi chuyện?

Không. Hào Năm và hào Sáu đều nói tới dùng quân. Khiêm là không phô, không cậy, nhưng vẫn cứng rắn trước điều sai.

"Bầu đa ích quả" nghĩa là gì?

Là bớt chỗ nhiều, bù chỗ ít, cân cho công bằng. Đó là cách Đại Tượng biến đức khiêm thành việc làm cụ thể.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Khiêm — lời quẻ, sáu lời hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng quẻ Khiêm — Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm; Địa trung hữu sơn, Khiêm; quân tử dĩ bầu đa ích quả, xứng vật bình thi · Chu Dịch — Hệ Từ truyện thượng, hạ — Lao nhi bất phạt, hữu công nhi bất đức; Khiêm, đức chi bính dã · Chu Dịch — Tự Quái, Tạp Quái truyện

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế