Quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân (13): cùng người ở chốn đồng nội, hợp mà không bè phái
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Cùng người ở chốn đồng nội; hợp quần rộng, không bè phái.
Thiên Hỏa Đồng Nhân là quẻ số 13: Càn (trời) ở trên, Ly (lửa) ở dưới. Đồng Nhân là cùng với người, hợp sức với người. Lời quẻ đặt nơi hợp quần ở "đồng nội", tức chỗ rộng rãi, công khai, ai cũng thấy: như thế thì thông, qua được sông lớn. Sáu hào lần lượt đi từ cửa nhà, qua họ tộc, bụi rậm, tường thành, đến ngoài cõi.
Tượng quẻ: lửa bốc lên gặp trời
Lửa có tính bốc lên, trời ở trên cao; hai thứ cùng một hướng. Đó là hình ảnh của những người khác nhau mà chung một chí. Ly lại là sáng, Càn là mạnh: Thoán truyện gọi là "văn minh dĩ kiện", sáng suốt mà mạnh mẽ, đủ để gom người mà không lầm người.
Chủ của quẻ là Lục Nhị, hào âm duy nhất, ở giữa quẻ dưới, đúng ngôi, ứng với Cửu Ngũ. Năm hào dương đều muốn được gần nó. Thoán truyện nói: "duy quân tử vi năng thông thiên hạ chi chí", chỉ người quân tử mới làm thông được chí hướng của cả thiên hạ.
Lời quẻ và Thoán truyện
Đồng nhân vu dã, hanh. Lợi thiệp đại xuyên, lợi quân tử trinh.
Cùng người ở chốn đồng nội thì thông. Lợi qua sông lớn, lợi cho người quân tử giữ chính.
"Dã" là cánh đồng ngoài xa, nơi không có tường, không có cửa riêng. Hợp quần ở đó nghĩa là hợp quần không vì thân sơ, không giấu giếm. Lời quẻ đặt điều kiện ngay trong địa điểm: cùng người mà còn khép cửa thì chưa phải Đồng Nhân.
Đại Tượng
Thiên dữ hoả, Đồng Nhân; quân tử dĩ loại tộc biện vật.
Trời với lửa là Đồng Nhân; người quân tử theo đó phân loại họ tộc, phân biệt sự vật. Thoạt nghe như ngược với tên quẻ: đang nói "cùng nhau" sao lại dạy "phân biệt"? Chính là chỗ tinh tế: hợp quần thật không xoá khác biệt, mà biết rõ ai giống ai khác ở đâu rồi mới tìm được chỗ chung. Gom người mà không phân biệt thì thành đám đông, không thành đồng chí.
Sáu hào
Sơ Cửu. "Đồng nhân vu môn, vô cữu." Ra khỏi cửa mà cùng người, không lỗi. Bước đầu tiên của hợp quần là ra khỏi nhà mình.
Lục Nhị. "Đồng nhân vu tông, lận." Chỉ cùng người trong họ, đáng tiếc. Chủ của quẻ mà bị chê, vì chỉ gắn với người ứng riêng với mình; hợp quần co lại thành phe thân thuộc.
Cửu Tam. "Phục nhung vu mãng, thăng kỳ cao lăng, tam tuế bất hưng." Giấu quân trong bụi rậm, lên gò cao dòm ngó, ba năm không dám dấy. Hào dương muốn tranh Lục Nhị với Cửu Ngũ, nhưng biết mình không đủ thế; cái nghi kỵ ngầm làm mình kẹt lại.
Cửu Tứ. "Thừa kỳ dung, phất khắc công, cát." Đã trèo lên tường thành mà không đánh, tốt. Có cơ hội ra tay mà tự xét thấy không chính nên thôi; biết dừng là lối ra.
Cửu Ngũ. "Đồng nhân tiên hào đào nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ." Cùng người, trước kêu khóc sau cười; quân lớn phải đánh thắng rồi mới gặp được nhau. Ngũ và Nhị ứng nhau mà bị Tam, Tứ chắn giữa. Hệ Từ thượng giảng hào này bằng câu "nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim; đồng tâm chi ngôn, kỳ xú như lan", hai người cùng lòng thì sắc bén chặt đứt kim loại, lời nói cùng lòng thơm như hoa lan.
Thượng Cửu. "Đồng nhân vu giao, vô hối." Cùng người ở ngoài thành, không hối. Đã ra tới vùng ven nhưng chưa tới "đồng nội" của lời quẻ; chí chưa trọn mà cũng không có gì phải ân hận.
Gieo được quẻ Đồng Nhân nên đọc thế nào
- Việc làm: thời hợp cho lập nhóm, liên kết, cùng làm với người ngoài vòng quen. Lời quẻ và hào Hai cho hai chiều đối lập: mở rộng công khai thì thông, khép lại thành phe thì tiếc. Cửu Tam là lời nhắc xem trong nhóm có ai đang giữ ý riêng, dòm chừng nhau không.
- Quan hệ: hào Năm là hình ảnh hai người hợp nhau mà bị chia cách bởi hoàn cảnh hay người thứ ba; phải qua được trở ngại mới gặp, và gặp được thì cười. Câu "đồng tâm" của Hệ Từ hay được dùng trong lễ cưới, đúng với hào này.
- Việc đang chờ: Cửu Tứ dạy không phải cơ hội nào cũng nên dùng. Nếu đang chờ để ra tay, hãy hỏi việc ấy có chính đáng không trước khi hỏi có thắng không.
Đồng Nhân đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ
Quẻ liền trước là Thiên Địa Bĩ (12): không gì tắc mãi, muốn mở thế tắc phải cùng người. Tự Quái đi tiếp: cùng với người thì người và vật ắt quy về, nên sau Đồng Nhân là Hỏa Thiên Đại Hữu (14).
Lật ngược Đồng Nhân ra Đại Hữu, đó là quẻ đảo; Tạp Quái truyện nói "Đại Hữu chúng dã, Đồng Nhân thân dã", Đại Hữu là đông, Đồng Nhân là thân. Đổi hết hào ra quẻ đối Địa Thủy Sư (7): Sư tụ người bằng kỷ luật, Đồng Nhân tụ người bằng lòng cùng hướng. Quẻ hỗ là Thiên Phong Cấu (44), gặp gỡ bất ngờ; nhiều cuộc hợp tác bắt đầu từ một lần tình cờ gặp.
☯️Gieo quẻ Kinh DịchGieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Đồng Nhân có phải quẻ tốt cho hợp tác?
Lời quẻ thuận cho hợp tác, với điều kiện làm công khai và giữ chính. Hào Hai cảnh báo hợp tác chỉ trong vòng thân thuộc thì đáng tiếc.
Vì sao hợp quần mà Đại Tượng lại dạy "phân biệt"?
Vì muốn hợp được phải biết rõ chỗ giống, chỗ khác. Hợp mà không phân biệt thì dễ thành a dua.
Câu "nhị nhân đồng tâm" nằm ở đâu?
Ở Hệ Từ truyện thượng, là lời giảng cho hào Cửu Ngũ quẻ Đồng Nhân.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Đồng Nhân — lời quẻ, sáu lời hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng quẻ Đồng Nhân — Duy quân tử vi năng thông thiên hạ chi chí; Thiên dữ hoả, Đồng Nhân; quân tử dĩ loại tộc biện vật · Chu Dịch — Hệ Từ truyện thượng — Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim; đồng tâm chi ngôn, kỳ xú như lan · Chu Dịch — Tự Quái, Tạp Quái truyện
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế