Quẻ Thuần Càn (1): con rồng sáu bậc và bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Trời vận hành không nghỉ; sức mạnh khởi đầu, người quân tử tự cường.
Thuần Càn là quẻ số 1 của Kinh Dịch: sáu hào đều dương, trên là Càn, dưới cũng là Càn. Lời quẻ chỉ bốn chữ "nguyên, hanh, lợi, trinh", tức khởi đầu lớn, thông suốt, thuận lợi, bền chính. Sáu hào kể đường đi của con rồng từ lúc còn ẩn dưới vực đến lúc bay giữa trời, rồi nhắc rằng lên quá cao thì sinh ân hận.
Tượng quẻ: trời chồng lên trời
Quẻ đơn Càn là ba vạch liền. Thuyết Quái truyện giảng một chữ: "Càn, kiện dã", Càn là mạnh, là cái vận hành không chịu dừng. Chồng hai Càn lên nhau không làm ra "hai bầu trời"; Dịch đọc đó là trời đi hết vòng này lại sang vòng khác, ngày nối ngày, mùa nối mùa.
Có một chỗ người đọc kỹ sẽ vấp. Thuyết Quái gán mỗi quẻ đơn một con vật và viết "Càn vi mã", Càn là ngựa, còn rồng thì thuộc Chấn ("Chấn vi long"). Vậy mà lời hào quẻ Càn lại toàn rồng. Lời hào thuộc tầng kinh văn cổ hơn, Thuyết Quái là truyện viết sau; hai tầng dùng hai bộ hình ảnh khác nhau. Bản lụa Mã Vương Đôi đào được năm 1973 còn ghi tên quẻ bằng một chữ đọc là "kiện", gần với cách Thuyết Quái giảng nghĩa.
Trong mười hai quẻ tiêu tức, Càn ứng với tháng Tư âm lịch, lúc khí dương lên đủ sáu bậc (xem mười hai quẻ tiêu tức).
Lời quẻ và Thoán truyện
Càn: nguyên, hanh, lợi, trinh.
Câu này có ít nhất hai cách đọc. Văn Ngôn đọc thành bốn đức: "Nguyên giả, thiện chi trưởng dã; hanh giả, gia chi hội dã; lợi giả, nghĩa chi hoà dã; trinh giả, sự chi cán dã", nguyên là đứng đầu điều thiện, hanh là chỗ hội của cái đẹp, lợi là sự hoà của điều nghĩa, trinh là cái cốt của việc. Chu Hy trong Bản Nghĩa đọc theo lối lời bói: rất thông, lợi ở chỗ giữ chính bền. Cách đọc thứ hai sát việc gieo quẻ hơn, vì nó đặt một điều kiện chứ không phát một lời khen.
Thoán truyện mở bằng "Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thuỷ, nãi thống thiên", lớn thay sức khởi đầu của Càn, muôn vật nhờ đó mà bắt đầu. Câu then chốt nằm ở giữa: "lục vị thời thành, thời thừa lục long dĩ ngự thiên", sáu ngôi thành theo thời, đúng thời thì cưỡi sáu con rồng mà đi trời. Sáu hào không phải sáu cấp bậc cố định mà là sáu thời điểm; cùng một con rồng, lúc nên ẩn, lúc nên bay.
Đại Tượng
Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.
Trời đi mạnh; người quân tử theo đó tự làm mình mạnh, không nghỉ. Chữ "tự" đáng để ý: sức mạnh ở đây không mượn từ ngoài, không nhờ thời vận, mà là cái nhịp tự giữ lấy mỗi ngày.
Sáu hào và Dụng Cửu
Sơ Cửu. "Tiềm long vật dụng." Rồng còn lặn, chớ dùng. Tài có rồi nhưng chưa đến lúc đem ra; ở dưới cùng mà đòi việc của hào trên là sai thời.
Cửu Nhị. "Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân." Rồng hiện ở ruộng, lợi gặp bậc đại nhân. Đã lộ mặt trên mặt đất, người khác bắt đầu thấy mình; lúc này cần người biết việc dẫn dắt.
Cửu Tam. "Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu." Suốt ngày gắng gỏi, tối vẫn còn lo, có nguy mà không lỗi. Hào ba ở chỗ chuyển từ quẻ dưới lên quẻ trên, tức chỗ dễ trượt nhất; chính sự dè chừng giữ cho khỏi lỗi.
Cửu Tứ. "Hoặc dược tại uyên, vô cữu." Hoặc nhảy lên, hoặc còn ở vực, không lỗi. Đây là lúc được phép thử; chữ "hoặc" cho thấy chưa ai buộc phải chọn ngay một đường.
Cửu Ngũ. "Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân." Rồng bay trên trời. Ngôi giữa của quẻ trên, chỗ tài và thời gặp nhau. Lời hào vẫn nhắc gặp đại nhân: đứng cao rồi càng cần người ngang tầm để đối chiếu.
Thượng Cửu. "Kháng long hữu hối." Rồng lên quá cao, có điều hối. Văn Ngôn giảng: chữ "kháng" là biết tiến mà không biết lui, biết còn mà không biết mất.
Dụng Cửu. "Kiến quần long vô thủ, cát." Thấy bầy rồng không con nào đứng đầu, tốt. Lời này dùng khi sáu hào cùng động, Càn biến hẳn thành Khôn; cái mạnh tới mức đủ thì biết không giành đầu. Bàn kỹ ở bài Dụng Cửu, Dụng Lục.
Gieo được Thuần Càn: đọc cho việc làm, quan hệ, việc đang chờ
Gieo ra Càn không hào động thì đọc lời quẻ và Đại Tượng: thời thuận cho việc khởi lên, với điều kiện đi đường chính. Có hào động thì hào đó mới là câu trả lời, vì nó cho biết bạn đang ở bậc nào trong sáu bậc của con rồng.
- Việc làm: câu hỏi thật thường không phải "có nên làm không" mà "mình đang ở bậc nào". Người ở hào Sơ mà hành xử như hào Ngũ là lỗi thời, người đã ở hào Ngũ mà còn rụt rè như hào Sơ cũng là lỗi thời.
- Quan hệ: sáu hào dương không có hào âm nào đón đỡ. Hai người cùng mạnh dễ cùng muốn quyết; câu Dụng Cửu là lời nhắc đặt việc chung lên trên chuyện ai đứng đầu.
- Việc đang chờ: Càn không phải quẻ của sự đứng yên. Nếu việc chưa tới, hào Sơ nói rõ: giữ sức, chưa dùng. Nếu đã tới bậc ba bậc bốn, phần còn lại thuộc về sự chăm chỉ mỗi ngày hơn là thời vận.
Kinh Dịch không định kết cục thay bạn; nó chỉ ra thế đứng và cách đi cho hợp thế ấy.
Càn đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ
Càn mở đầu Thượng Kinh, không có quẻ liền trước. Tự Quái truyện cũng không giảng riêng Càn mà gộp Càn với Khôn làm trời đất: "có trời đất rồi muôn vật mới sinh", rồi đi tiếp sang Truân (3). Quẻ liền sau là Thuần Khôn (2).
Lật ngược Càn vẫn là Càn, nên Càn thuộc tám quẻ không có quẻ đảo; quẻ cặp với nó là quẻ đối, đổi hết sáu hào thành âm, tức Khôn. Quẻ hỗ của Càn cũng là Càn: bên trong và bên ngoài cùng một chất, không ẩn điều gì khác. Thứ tự theo cặp như vậy được giải ở bài 64 quẻ Kinh Dịch.
☯️Gieo quẻ Kinh DịchGieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Quẻ Thuần Càn là tốt hay xấu?
Lời quẻ thuận, nhưng sáu hào cho thấy cùng một sức mạnh có lúc phải giấu, có lúc gặp nguy, có lúc sinh hối. Gieo được Càn nên xem hào động trước khi kết luận.
Vì sao Càn nói về rồng mà Thuyết Quái lại gán Càn cho ngựa?
Lời hào thuộc phần kinh cổ, Thuyết Quái là truyện viết về sau, hai tầng dùng hai bộ hình ảnh. Trong Thuyết Quái rồng thuộc quẻ Chấn.
Sáu hào quẻ Càn cùng động thì đọc thế nào?
Đọc câu Dụng Cửu "thấy bầy rồng không con nào đứng đầu, tốt", rồi xem thêm quẻ biến là Thuần Khôn.
"Tự cường bất tức" nên hiểu ra sao cho đời thường?
Là tự giữ nhịp làm việc đều đặn, không chờ ai thúc, không đợi gặp thời mới cố. Câu ấy nói về thói quen hơn là về tham vọng.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Càn — lời quẻ, sáu lời hào, Dụng Cửu · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng, Văn Ngôn quẻ Càn — Đại tai Càn nguyên; Thiên hành kiện; Nguyên giả thiện chi trưởng dã · Chu Dịch — Thuyết Quái truyện — Càn vi mã, Chấn vi long · Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế