Quẻ Địa Thủy Sư (7): cầm quân, dẫn đám đông và người cầm đầu từng trải

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 7
7. Địa Thủy Sư
Khôn trên · Khảm dưới
Địa Thủy Sư

Quân đội, đám đông; cần người cầm đầu chính đáng, từng trải.

Địa Thủy Sư là quẻ số 7: Khôn (đất) ở trên, Khảm (nước) ở dưới. Sư là quân đội, rộng ra là đám đông được tổ chức để làm một việc lớn. Lời quẻ ngắn mà đặt hai điều kiện: việc phải chính đáng, và người cầm đầu phải là bậc từng trải. Đủ hai điều đó thì tốt, không lỗi.

Tượng quẻ: nước nằm trong lòng đất

Đại Tượng tả quẻ là "địa trung hữu thuỷ", trong đất có nước. Nước ngầm không ai thấy, nhưng ở đâu đào xuống cũng gặp. Người xưa dùng hình ấy để nói về đội quân nằm sẵn trong dân: thời bình là người cày ruộng, có việc thì thành người cầm giáo. Sức của Sư không nằm ở trại lính mà nằm ở lòng dân.

Cả quẻ chỉ có một hào dương là Cửu Nhị, ở giữa quẻ dưới, được năm hào âm vây quanh. Đó là vị tướng. Lục Ngũ ở ngôi vua là hào âm, mềm, ứng với Cửu Nhị: vua không tự cầm quân mà giao trọn cho tướng. Quẻ Sư vì vậy bàn nhiều về chuyện giao quyền.

Thoán truyện có một câu thật thà đáng nể: "dĩ thử độc thiên hạ nhi dân tùng chi", lấy việc này làm khổ thiên hạ mà dân vẫn theo. Chữ "độc" có nhà chú giải giảng nhẹ đi thành "sai khiến", nhưng đọc theo nghĩa thường thì người viết truyện không coi ra quân là chuyện vẻ vang; dân chịu theo là vì việc chính đáng, không phải vì chiến tranh tốt đẹp.

Lời quẻ và Thoán truyện

Sư: trinh, trượng nhân cát, vô cữu.

Giữ chính, có bậc trượng nhân thì tốt, không lỗi. "Trượng nhân" là người lớn tuổi, đã từng trải, được người dưới kính phục.

Thoán truyện giảng từng chữ: "Sư, chúng dã; trinh, chính dã. Năng dĩ chúng chính, khả dĩ vương hĩ." Sư là đám đông, trinh là chính; làm cho đám đông đi theo lẽ chính thì có thể làm vua. Rồi nói thế quẻ: "cương trung nhi ứng, hành hiểm nhi thuận", hào cứng ở giữa mà được ứng, đi vào hiểm mà vẫn thuận, vì Khảm hiểm ở trong, Khôn thuận ở ngoài.

Đại Tượng

Địa trung hữu thuỷ, Sư; quân tử dĩ dung dân súc chúng.

Người quân tử theo đó bao dung dân, nuôi đám đông. Muốn có đội quân lúc cần thì phải nuôi người lúc thường.

Sáu hào

Sơ Lục. "Sư xuất dĩ luật, phủ tang hung." Quân ra phải có kỷ luật; không giữ được thì xấu. Hào đầu dặn việc đầu tiên: trước khi tính thắng, phải có phép tắc.

Cửu Nhị. "Tại sư trung, cát vô cữu, vương tam tích mệnh." Ở giữa quân, tốt, không lỗi; vua ba lần ban mệnh. Tướng ở giữa quân chứ không ngồi xa chỉ trỏ, và được người trên tin trọn.

Lục Tam. "Sư hoặc dư thi, hung." Nghĩa đen là quân có khi phải chở thây về, xấu. Có hai cách hiểu: Chu Hy theo nghĩa thua trận; Trình Di đọc "dư" là nhiều, "thi" là người làm chủ, tức quân có nhiều người cùng chỉ huy. Hai cách dẫn tới cùng một bài học: hào âm ở chỗ dương, tài không đủ mà đòi cầm việc.

Lục Tứ. "Sư tả thứ, vô cữu." Quân lui về đóng trại, không lỗi. Thấy không thắng được thì lui để giữ quân; lui đúng lúc không phải là hèn.

Lục Ngũ. "Điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu. Trưởng tử suất sư, đệ tử dư thi, trinh hung." Ruộng có thú phá thì lợi bắt lấy, có lý do chính đáng; con trưởng cầm quân, nếu để em út chen vào thì phải chở thây về, cố giữ cách ấy là xấu. Người trên đã giao quyền cho tướng thì đừng cài thêm người chia quyền.

Thượng Lục. "Đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng." Vua ban mệnh, phong nước, lập nhà cho người có công; kẻ tiểu nhân chớ dùng. Xong việc thì thưởng, nhưng thưởng bằng lộc khác với giao quyền; người chỉ giỏi đánh mà không giỏi trị thì đừng trao việc trị.

Gieo được quẻ Sư nên đọc thế nào

  • Việc làm: hợp với việc cần nhiều người cùng làm: dựng nhóm, chạy một dự án lớn, tổ chức sự kiện. Ba câu hỏi lời quẻ đặt ra: việc có chính đáng không, ai là người cầm đầu đủ từng trải, và quyền có được giao rõ cho một người không. Lục Tam và Lục Ngũ cùng cảnh báo cảnh nhiều người cùng làm chủ.
  • Quan hệ: với đại gia đình, hội nhóm, cần một người đứng ra điều phối và những người khác chịu theo. Sơ Lục nhắc nề nếp phải có trước.
  • Việc đang chờ: Lục Tứ cho phép lui về giữ sức mà không lỗi. Nếu chưa đủ người, đủ sức, thì chờ thêm là quyết định đúng chứ không phải bỏ cuộc.

Sư đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ

Quẻ liền trước là Thiên Thủy Tụng (6): kiện tụng không dứt thì thành đám đông nổi dậy. Tự Quái đi tiếp: đám đông ắt phải có chỗ gắn bó, nên sau Sư là Thủy Địa Tỷ (8).

Lật ngược Sư ra Tỷ, đó là quẻ đảo; một hào dương duy nhất ở ngôi Hai thì thành tướng, lên ngôi Năm thì thành vua được muôn người gần gũi. Tạp Quái truyện nói gọn "Tỷ lạc, Sư ưu", Tỷ là vui, Sư là lo. Đổi hết hào ra quẻ đối Thiên Hỏa Đồng Nhân (13): một bên tập hợp người bằng mệnh lệnh, một bên bằng lòng cùng chí hướng. Quẻ hỗ là Địa Lôi Phục (24).

☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Sư có phải quẻ chiến tranh, nên tránh?

Quẻ bàn về cách tổ chức đám đông cho một việc lớn. Lời quẻ tốt nếu việc chính đáng và người cầm đầu đủ từng trải.

"Trượng nhân" khác "đại nhân" thế nào?

Đại nhân nhấn vào đức và địa vị, trượng nhân nhấn vào tuổi tác và kinh nghiệm. Quẻ Sư cần người đã qua việc, được người dưới phục.

Hào Lục Ngũ nói gì về việc giao quyền?

Đã giao việc cho người giỏi thì giao trọn, không cài thêm người khác cùng chỉ huy. Hai người cùng cầm một đội là mầm hỏng việc.

Lui quân ở hào Lục Tứ có phải là thua?

Không. Lời hào nói "không lỗi": lui để giữ sức khi thế chưa thuận là cách hành quân đúng.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Sư — lời quẻ, sáu lời hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng quẻ Sư — Sư, chúng dã; trinh, chính dã; Địa trung hữu thuỷ, Sư; quân tử dĩ dung dân súc chúng · Chu Dịch — Tự Quái, Tạp Quái truyện · Trình thị Dịch truyện — Trình Di; Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy — hai cách hiểu chữ dư thi

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế