Quẻ Thủy Lôi Truân (3): gian nan buổi đầu, mầm đội đất mà lên

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 3
3. Thủy Lôi Truân
Khảm trên · Chấn dưới
Thủy Lôi Truân

Gian nan buổi đầu, mầm đội đất mà lên; nên dựng người giúp, chưa nên đi xa.

Thủy Lôi Truân là quẻ số 3: Khảm (nước, hiểm) ở trên, Chấn (sấm, động) ở dưới. Truân là gian nan của buổi đầu, như mầm cây vừa đội đất. Lời quẻ vẫn khen lớn và thông, nhưng dặn chưa nên vội đi xa, mà lợi ở chỗ dựng người giúp sức. Sáu hào đầy hình ảnh xe ngựa dùng dằng, không tiến được ngay.

Tượng quẻ: sấm động dưới mây dày

Chấn ở dưới là sức muốn bật lên, Khảm ở trên là chỗ hiểm chắn lối. Thoán truyện gọi đúng tên thế ấy: "động hồ hiểm trung", động ở giữa chỗ hiểm. Mây đã kéo, sấm đã nổ mà mưa chưa rơi; mọi thứ đang chuyển nhưng chưa thành hình.

Chữ Truân trong Hán tự vẽ một mầm cây cong đầu, phía trên có nét ngang là mặt đất. Thuyết Văn Giải Tự giảng đại ý: Truân là khó, tượng cây cỏ mới mọc, cong queo mà gian nan. Cùng chữ ấy còn đọc là "đồn", nghĩa là đóng quân, tích tụ; Tự Quái truyện giảng "Truân giả, doanh dã", Truân là đầy. Hai nghĩa không chống nhau: sức sống đầy ứ mà chưa có lối ra thì thành khó.

Chủ của quẻ là Sơ Cửu, hào dương nằm dưới hai hào âm. Tiểu Tượng khen: "dĩ quý hạ tiện, đại đắc dân dã", người sang mà chịu ở dưới kẻ hèn thì được lòng người lớn.

Dân gian xếp Truân cùng Khảm, Kiển, Khốn vào nhóm bốn quẻ gian nan. Nhưng trong bốn quẻ ấy, Truân là quẻ duy nhất mở bằng đủ "nguyên hanh lợi trinh": khó vì mới, không phải khó vì hỏng.

Lời quẻ và Thoán truyện

Truân: nguyên hanh lợi trinh. Vật dụng hữu du vãng, lợi kiến hầu.

Lớn, thông, lợi giữ chính. Chớ vội có chỗ đi, lợi ở chỗ dựng chư hầu, tức dựng người đứng ra trông coi từng phần.

Thoán truyện giải: "cương nhu thuỷ giao nhi nan sinh", cứng và mềm vừa gặp nhau thì cái khó nảy ra. Gặp gỡ đầu tiên của hai lực nào cũng lóng ngóng như vậy. Câu sau nói về buổi trời đất mới tạo, mọi thứ còn lộn xộn mờ tối, "nghi kiến hầu nhi bất ninh", nên dựng người giúp mà không được ngồi yên.

Đại Tượng

Vân lôi Truân, quân tử dĩ kinh luân.

Mây và sấm là Truân; người quân tử theo đó mà kinh luân. Kinh luân nghĩa gốc là gỡ tơ, sắp sợi dọc sợi ngang cho thành tấm. Lúc rối nhất là lúc phải bắt tay sắp xếp, không phải lúc đứng nhìn.

Sáu hào

Sơ Cửu. "Bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu." Dùng dằng quanh quẩn, lợi ở yên giữ chính, lợi dựng người giúp. Dùng dằng ở đây không phải nhu nhược mà là chưa có đường; giữ chính và gom người trước.

Lục Nhị. "Truân như chiên như, thừa mã ban như, phỉ khấu hôn cấu. Nữ tử trinh bất tự, thập niên nãi tự." Khó khăn quẩn quanh, cưỡi ngựa dùng dằng; không phải giặc, mà là người đến cầu hôn. Người con gái giữ mình chưa nhận lời, mười năm mới nhận. Hào này ứng với Cửu Ngũ ở xa nhưng bị Sơ Cửu ở sát bên níu; không vì người gần mà bỏ người hợp.

Lục Tam. "Tức lộc vô ngu, duy nhập vu lâm trung; quân tử cơ bất như xá, vãng lận." Đuổi hươu mà không có người coi rừng dẫn đường, chỉ lạc vào giữa rừng; người quân tử thấy cơ thì thôi, cố đi thì hối tiếc. Hào âm ở ngôi dương, không có ứng: hăng mà thiếu người biết đường.

Lục Tứ. "Thừa mã ban như, cầu hôn cấu, vãng cát, vô bất lợi." Cưỡi ngựa dùng dằng, đi cầu kết thân thì tốt. Hào này biết mình không đủ sức một mình nên chủ động tìm Sơ Cửu; đi lúc này thì được.

Cửu Ngũ. "Truân kỳ cao, tiểu trinh cát, đại trinh hung." Ơn huệ bị ứ lại chưa tới được người dưới; việc nhỏ giữ chính thì tốt, việc lớn mà cố thì xấu. Người ở trên bị kẹt giữa hai hào âm, nên làm từng phần nhỏ.

Thượng Lục. "Thừa mã ban như, khấp huyết liên như." Cưỡi ngựa dùng dằng, khóc ra lệ máu ròng ròng. Ở tận cùng của gian nan mà không có ai ứng; Tiểu Tượng hỏi lại "hà khả trường dã", sao kéo dài được, tức tình thế này rồi cũng phải đổi.

Gieo được quẻ Truân nên đọc thế nào

  • Việc làm: hợp với cảnh mới mở, mới nhận việc, mới dựng nhóm. Lời quẻ chỉ hai việc cụ thể: chưa mở rộng vội, và tìm người đáng tin giao từng phần. Lục Tam là lời nhắc đừng lao vào lĩnh vực không có người dẫn.
  • Quan hệ: ba hào có hình ảnh cầu hôn. Thời này kết thân được, nhưng không phải ai đến gần là người hợp; Lục Nhị chờ đúng người, Lục Tứ chủ động tìm đúng người.
  • Việc đang chờ: đây không phải chờ trong yên lặng mà là chờ trong lúc gỡ rối. Khó vì mới, nên sắp xếp được bao nhiêu thì nhẹ được bấy nhiêu; quẻ không hứa ngày xong.

Truân đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ

Quẻ liền trước là Thuần Khôn (2): có trời đất rồi muôn vật sinh, mà vật mới sinh thì gian nan. Tự Quái đi tiếp: vật mới sinh ắt non dại, nên sau Truân là Sơn Thủy Mông (4).

Lật ngược Truân thì ra Mông, đó là quẻ đảo và cũng là cặp của nó. Tạp Quái truyện tả cặp này: Truân hiện ra mà không mất chỗ đứng, Mông lẫn lộn mà dần sáng. Đổi hết hào thì ra quẻ đối Hỏa Phong Đỉnh (50), cái vạc dựng nghiệp mới: một bên là buổi đầu lóng ngóng, một bên là lúc đã đứng vững. Quẻ hỗ là Sơn Địa Bác (23), cho thấy bên trong buổi đầu còn những thứ cũ đang bong ra.

☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Truân có phải quẻ xấu?

Lời quẻ có đủ "nguyên hanh lợi trinh". Truân là khó của sự khởi đầu, không phải khó của sự sụp đổ; quẻ khuyên cách đi qua chứ không bảo bỏ.

"Lợi kiến hầu" nên hiểu thế nào hôm nay?

Là dựng người đứng ra lo từng phần việc, chia gánh cho người đáng tin, thay vì một mình ôm hết lúc mọi thứ còn rối.

Vì sao Lục Nhị chờ đến "mười năm"?

Mười là con số tròn chỉ thời gian dài, không phải hạn đếm năm. Ý hào là đừng vì bị níu kéo mà nhận lời với người không hợp.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Truân — lời quẻ, sáu lời hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng quẻ Truân — Cương nhu thuỷ giao nhi nan sinh; Vân lôi Truân, quân tử dĩ kinh luân; Dĩ quý hạ tiện, đại đắc dân dã · Chu Dịch — Tự Quái, Tạp Quái truyện · Thuyết Văn Giải Tự — Hứa Thận, mục chữ Truân

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế