Tám quẻ thuần (bát thuần quái): khi một quẻ đơn tự nhân đôi thì nghĩa đổi thế nào

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 12 phút đọc

Tám quẻ thuần (bát thuần quái): khi một quẻ đơn tự nhân đôi thì nghĩa đổi thế nào

Bát thuần quái là tám quẻ kép do một quẻ đơn chồng lên chính nó: Thuần Càn, Thuần Khôn, Thuần Khảm, Thuần Ly, Thuần Chấn, Thuần Cấn, Thuần Tốn, Thuần Đoài. Nhân đôi không chỉ làm nghĩa mạnh thêm mà còn đổi nghĩa: hiểm chồng hiểm thành bài học "tập", sáng nối sáng thành chuyện "kế tục". Cả tám đứng đầu tám cung và đều là quẻ lục xung.

Bài này đi qua tám quẻ ấy bằng ba cái nhìn: chữ nghĩa trong Đại Tượng, cấu trúc sáu hào, và vị trí của chúng trong phép đoán Lục Hào đời Hán. Ba cái nhìn cho ra một nhận xét chung khá bất ngờ, nói ở cuối.

Tám quẻ thuần nằm ở đâu trong 64 quẻ

Theo thứ tự Văn Vương, tám quẻ thuần không đứng cạnh nhau mà rải thành bốn cặp:

SốQuẻĐứng cặp vớiKiểu cặp
1, 2Thuần Càn, Thuần Khônnhauđổi hết hào (thác)
29, 30Thuần Khảm, Thuần Lynhauđổi hết hào (thác)
51, 52Thuần Chấn, Thuần Cấnnhaulật ngược (tổng)
57, 58Thuần Tốn, Thuần Đoàinhaulật ngược (tổng)

Hai cặp đầu mở và khép Thượng Kinh: Càn Khôn ở quẻ 1 và 2, Khảm Ly ở quẻ 29 và 30. Hai cặp sau nằm trong Hạ Kinh. Đây không phải ngẫu nhiên: Càn, Khôn, Khảm, Ly là bốn quẻ lật ngược vẫn y nguyên, nên chỉ có thể ghép cặp bằng cách đổi hết hào; còn Chấn lật ngược thành Cấn, Tốn lật ngược thành Đoài, nên chúng ghép cặp theo lối thường. Bạn có thể tự thử: vẽ Thuần Chấn (một vạch liền dưới cùng mỗi quẻ đơn) rồi xoay ngược tờ giấy, sẽ ra Thuần Cấn.

Tên gọi "bát thuần" là cách gọi của người học Dịch đời sau, không có trong kinh văn. Kinh văn chỉ ghi một chữ: Càn, Khôn, Khảm, Ly… Riêng quẻ Khảm, lời quẻ mở bằng "Tập Khảm", nên sách cũ của ta có khi gọi cả quẻ là Tập Khảm.

Bảng tám quẻ thuần

QuẻTượngLời quẻ (rút gọn)Đại TượngTrong bát cung
Càn (1)trời trên trờiNguyên, hanh, lợi, trinhThiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tứcđầu cung Càn, hành Kim
Khôn (2)đất trên đấtNguyên, hanh, lợi tẫn mã chi trinhĐịa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vậtđầu cung Khôn, hành Thổ
Khảm (29)nước trên nướcTập Khảm, hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượngnước chảy đến liên tiếp; quân tử giữ đức hạnh cho thường, luyện việc dạy dỗđầu cung Khảm, hành Thủy
Ly (30)lửa trên lửaLy, lợi trinh, hanh; súc tẫn ngưu cátMinh lưỡng tác, Ly; đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phươngđầu cung Ly, hành Hỏa
Chấn (51)sấm trên sấmChấn hanh; Chấn lai khích khích, tiếu ngôn ách áchsấm nối sấm; quân tử lấy lo sợ mà sửa mình, xét mìnhđầu cung Chấn, hành Mộc
Cấn (52)núi trên núiCấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân; hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, vô cữuKiêm sơn, Cấn; quân tử dĩ tư bất xuất kỳ vịđầu cung Cấn, hành Thổ
Tốn (57)gió trên gióTiểu hanh, lợi hữu du vãng, lợi kiến đại nhânTùy phong, Tốn; quân tử dĩ thân mệnh hành sựđầu cung Tốn, hành Mộc
Đoài (58)đầm trên đầmĐoài hanh, lợi trinhLệ trạch, Đoài; quân tử dĩ bằng hữu giảng tậpđầu cung Đoài, hành Kim

Cột Đại Tượng của Khảm và Chấn ghi theo nghĩa, vì chữ đầu câu (nghĩa là "liên tiếp, lặp lại") được các bản phiên âm Hán Việt đọc không thống nhất; phần còn lại của hai câu ấy là "quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự" và "quân tử dĩ khủng cụ tu tỉnh".

Chữ "lặp" trong Đại Tượng: nhân đôi là đổi nghĩa

Đọc cột Đại Tượng theo hàng dọc, bạn thấy sáu trong tám câu mở bằng một chữ chỉ sự lặp, sự nối: Khảm là nước đến liên tiếp, Ly là "minh lưỡng tác" (sáng hai lần), Chấn là sấm nối sấm, Cấn là "kiêm sơn" (núi gộp núi), Tốn là "tùy phong" (gió theo gió), Đoài là "lệ trạch" (đầm liền đầm). Người soạn Đại Tượng biết rõ mình đang tả một quẻ nhân đôi, và chữ được chọn cho thấy nhân đôi làm gì với nghĩa gốc:

  • Khảm: hiểm chồng hiểm thành chuyện tập luyện. Quẻ đơn Khảm là hiểm, là hố. Thoán truyện giải quẻ kép bằng bốn chữ "Tập Khảm, trùng hiểm dã", tập Khảm là hiểm chồng lên hiểm. Nhưng chữ "tập" (習) vốn có nghĩa là chim non tập bay lặp đi lặp lại, và Đại Tượng dùng đúng nghĩa ấy: người quân tử "tập giáo sự", luyện việc dạy dỗ cho quen. Nước gặp hố thì lấp hố rồi chảy tiếp, không mất lối. Hiểm gặp hai lần thì thành quen; quẻ khó nhất cũng là quẻ của sự rèn.
  • Ly: sáng nối sáng thành kế tục. Lửa không tự cháy, phải bám vào vật (chữ Ly nghĩa gốc là "lệ", bám vào). Hai lần sáng thì Đại Tượng nói "kế minh", nối ánh sáng, và lần này chủ ngữ không phải "quân tử" như bảy quẻ kia mà là "đại nhân". Ly là quẻ duy nhất trong tám quẻ thuần mà Đại Tượng nói tới người ở ngôi lớn: ánh sáng phải được truyền nối, đời trước soi cho đời sau.
  • Chấn: sấm nối sấm thành sợ rồi sửa. Một tiếng sấm làm người giật mình; sấm dồn dập thì người khôn biết xét lại mình. Lời quẻ tả đúng hai nhịp: "Chấn lai khích khích, tiếu ngôn ách ách", sấm đến thì nơm nớp, sau đó nói cười hả hê.
  • Cấn: núi gộp núi thành biết chỗ đứng. Núi đã đứng yên, hai núi càng yên. Đại Tượng không bảo đứng yên cho xong mà bảo "tư bất xuất kỳ vị", nghĩ không vượt ra ngoài vị trí của mình.
  • Tốn: gió theo gió thành lệnh nhắc lại. Một làn gió lay cỏ, gió nối gió thì thấm vào mọi kẽ. Đại Tượng nói "thân mệnh hành sự", nhắc lại mệnh lệnh rồi mới làm việc. Ai từng quản lý người đều biết: dặn một lần chưa đủ.
  • Đoài: đầm liền đầm thành bạn học với nhau. Hai đầm nước nằm cạnh thì thấm sang nhau. Đại Tượng nói "bằng hữu giảng tập", bạn bè cùng giảng, cùng tập. Niềm vui của Đoài không phải vui một mình.

Hai quẻ không dùng chữ lặp là Càn và Khôn. Đại Tượng của chúng nói về thế: "thiên hành kiện", trời đi mạnh; "địa thế khôn", thế đất thuận. Trời và đất không cần nhân đôi để thành chính mình; chúng là khung chứa sáu quẻ còn lại. Nhiều nhà chú giải coi đây là lý do Càn Khôn đứng riêng ở đầu sách, trước mọi quẻ khác.

Sáu hào không hào nào ứng nhau

Đây là chỗ người học hay bỏ qua. Trong quẻ kép, hào 1 ứng hào 4, hào 2 ứng hào 5, hào 3 ứng hào 6; hai hào ứng nhau khi một âm một dương. Ở quẻ thuần, quẻ trên y hệt quẻ dưới, nên hào 1 và hào 4 luôn cùng tính, hào 2 và 5 cùng tính, hào 3 và 6 cùng tính. Kết quả: cả tám quẻ thuần đều không có cặp ứng nào. Quy tắc ứng, tỷ được giảng kỹ ở bài hào vị.

Kinh văn có ghi lại điều này một cách tường minh. Thoán truyện quẻ Cấn viết: "Thượng hạ địch ứng, bất tương dữ dã", trên dưới đối nhau ngang hàng mà không ứng, không cùng nhau. Chữ "địch" ở đây là ngang sức, như hai người đứng đối mặt mà không ai nhường ai. Cấn là quẻ dừng, và cái dừng ấy hiện ra ngay trong cấu trúc: sáu hào không có đường nào để hô và đáp.

Hệ quả khi đọc lời hào: ở quẻ thuần, mỗi hào phải dựa vào vị trí của chính nó và vào hào kề bên nhiều hơn là trông chờ hào ứng. Vì thế lời hào của các quẻ thuần thường nói về tự xử: Khôn sơ lục "Lý sương, kiên băng chí", giẫm lên sương thì biết băng cứng sắp đến, là lời dặn tự nhìn trước; Cấn lục ngũ "Cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong", dừng ở hàm, nói có thứ tự thì hết ăn năn, là lời dặn tự giữ miệng.

Hỗ quái: bên trong quẻ thuần là quẻ khác hẳn

Quẻ hỗ lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ dưới, hào 3, 4, 5 làm quẻ trên, để xem cái ẩn bên trong. Tính bằng công cụ của site cho tám quẻ thuần:

Quẻ thuầnQuẻ hỗĐọc thử
Càn (1)Càn (1)trong ngoài một khối
Khôn (2)Khôn (2)trong ngoài một khối
Khảm (29)Di (27)trong cái hiểm có chuyện nuôi dưỡng
Ly (30)Đại Quá (28)trong cái sáng có sức nặng quá tải
Chấn (51)Kiển (39)trong cái động có cái khó đi
Cấn (52)Giải (40)trong cái dừng có cái cởi
Tốn (57)Khuê (38)trong cái thuận có cái lệch
Đoài (58)Gia Nhân (37)trong cái vui có nếp nhà

Bốn cặp cuối đáng nhìn kỹ. Chấn (động) mang Kiển (khó đi) ở trong, Cấn (dừng) mang Giải (cởi gỡ) ở trong: hai quẻ ngược nhau ở ngoài thì cũng ngược nhau ở trong, và ở trong mỗi bên lại giữ cái mà bên ngoài thiếu. Cách đọc này là của Mai Hoa và các nhà tượng số; phần kinh văn không nói về quẻ hỗ. Cách dùng quẻ hỗ trong đoán việc xem ở bài hỗ quái, biến quái.

Trong Lục Hào: đầu cung và quẻ lục xung

Phép đoán Lục Hào, gắn với Kinh Phòng đời Tây Hán, xếp 64 quẻ thành tám cung, mỗi cung tám quẻ, và quẻ thuần luôn đứng đầu. Từ quẻ thuần, đổi dần từng hào từ dưới lên sẽ ra bảy quẻ còn lại của cung; chi tiết ở bài bát cung quái. Ở quẻ đầu cung, hào Thế nằm ở hào 6, hào Ứng ở hào 3.

Lục Hào còn gắn can chi vào sáu hào theo phép nạp giáp. Khi gắn xong, cả tám quẻ thuần đều có ba cặp hào đối nhau (1 với 4, 2 với 5, 3 với 6) mang hai chi xung nhau:

QuẻBa hào dướiBa hào trênBa cặp xung
Càn, ChấnTý, Dần, ThìnNgọ, Thân, TuấtTý–Ngọ, Dần–Thân, Thìn–Tuất
KhảmDần, Thìn, NgọThân, Tuất, TýDần–Thân, Thìn–Tuất, Ngọ–Tý
CấnThìn, Ngọ, ThânTuất, Tý, DầnThìn–Tuất, Ngọ–Tý, Thân–Dần
KhônMùi, Tỵ, MãoSửu, Hợi, DậuMùi–Sửu, Tỵ–Hợi, Mão–Dậu
TốnSửu, Hợi, DậuMùi, Tỵ, MãoSửu–Mùi, Hợi–Tỵ, Dậu–Mão
LyMão, Sửu, HợiDậu, Mùi, TỵMão–Dậu, Sửu–Mùi, Hợi–Tỵ
ĐoàiTỵ, Mão, SửuHợi, Dậu, MùiTỵ–Hợi, Mão–Dậu, Sửu–Mùi

Quẻ như thế gọi là quẻ lục xung. Ngoài tám quẻ thuần, chỉ có thêm hai quẻ lục xung nữa là Vô Vọng (25) và Đại Tráng (34), vì chúng ghép đúng hai quẻ đơn có nạp chi giống Càn và Chấn. Cách gắn can chi này xem ở bài nạp giáp.

Sách Tăng San Bốc Dịch bàn khá nhiều về quẻ lục xung; đại ý: lục xung là thế tan, việc muốn tụ lại thì khó tụ, việc muốn rời ra thì dễ rời; gặp lục xung mà hào động hoá thành quẻ lục hợp thì trước tan sau hợp. Đọc cạnh phần trên, bạn thấy hai hệ thống, một bằng chữ, một bằng can chi, đi tới cùng một chỗ: quẻ thuần là quẻ không có đối thoại giữa trên và dưới. Kinh văn nói "bất tương dữ", Lục Hào nói "xung". Đó là nhận xét chung mà bài hứa ở đầu.

Sách cổ nói gì

Càn, kiện dã; Khôn, thuận dã; Chấn, động dã; Tốn, nhập dã; Khảm, hãm dã; Ly, lệ dã; Cấn, chỉ dã; Đoài, duyệt dã.

Càn là mạnh, Khôn là thuận, Chấn là động, Tốn là vào, Khảm là hãm, Ly là bám, Cấn là dừng, Đoài là vui. — Chu Dịch, Thuyết Quái truyện

Bình: tám chữ này là "tính" của tám quẻ đơn. Đến quẻ thuần, tính ấy được nhân đôi, và đọc Đại Tượng thì thấy người xưa không coi nhân đôi là gấp đôi: hãm hai lần thành tập, bám hai lần thành nối, động hai lần thành tự xét.

Tập Khảm, trùng hiểm dã. Thủy lưu nhi bất doanh, hành hiểm nhi bất thất kỳ tín.

Tập Khảm là hiểm chồng lên hiểm. Nước chảy mà không đầy tràn, đi qua chỗ hiểm mà không mất lòng tin. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Khảm

Bình: câu sau là lời giải cho câu trước. Hiểm chồng hiểm không làm nước dừng; nước chỉ đi qua và vẫn là nước. Đây là cách người soạn Thoán truyện đọc một quẻ thuần: khi tính chất được nhân đôi, cái cần giữ là chính mình.

Thượng hạ địch ứng, bất tương dữ dã.

Trên dưới đối nhau ngang hàng, không cùng nhau. — Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Cấn

Đọc cho đúng mức

Tên "bát thuần", "quẻ lục xung", "đầu cung" đều là lớp đời sau. Kinh văn chỉ có tên quẻ, lời quẻ, lời hào. Đại Tượng và Thoán truyện thuộc Thập Dực, theo truyền thống gán cho Khổng Tử, còn giới nghiên cứu nay phần nhiều cho là hình thành dần qua thời Chiến Quốc. Bát cung và nạp giáp là hệ thống của Kinh Phòng đời Hán. Ba lớp này hợp nhau ở điểm bài đã nêu, nhưng đừng đọc lục xung ngược vào kinh văn như thể Văn Vương đã nghĩ tới nó.

Lục xung không phải quẻ xấu. Trong Lục Hào, lục xung chỉ cho biết thế việc có xu hướng tan hay khó kết; còn tốt xấu phải xem dụng thần vượng suy, hào động, ngày tháng gieo. Người hỏi việc muốn dứt một hợp đồng cũ mà gặp lục xung thì lại hợp ý.

Quẻ thuần không mạnh hơn quẻ khác. Gieo ra Thuần Càn không có nghĩa "khí trời gấp đôi". Lời hào Càn tự nhắc: rồng lên quá cao thì có ăn năn. Những chỗ thịnh quá được bàn ở bài những quẻ được coi là tốt nhất.

Bảng hỗ quái là phép tính, không phải lời Kinh. Câu "đọc thử" trong bảng là gợi ý của người viết để nhớ, theo lối tượng số; các phái nghĩa lý không dùng quẻ hỗ.

Việc nên làm

  • Học tám quẻ thuần như một nhóm sau khi thuộc tám quẻ đơn: mỗi quẻ thuần là chỗ tính của quẻ đơn hiện ra rõ nhất.
  • Thuộc sáu chữ lặp trong Đại Tượng (tập, minh lưỡng tác, sấm nối, kiêm, tùy, lệ); nhớ được sáu chữ là nhớ được ý sáu quẻ.
  • Khi gieo ra một quẻ thuần, để ý rằng không có hào ứng: lời khuyên thường quay về chuyện tự giữ, tự xét, hơn là chờ người khác đáp lại.
  • Nếu học Lục Hào, tự gắn nạp chi cho Thuần Khảm bằng tay rồi đối chiếu bảng trên; đây là bài tập tốt để thuộc phép nạp giáp.
  • Đọc mỗi quẻ thuần cạnh quẻ đứng cặp với nó: Chấn cạnh Cấn, Tốn cạnh Đoài.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Dịch, kinh văn tám quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly, Chấn, Cấn, Tốn, Đoài: lời quẻ, một số lời hào, Đại Tượng (trích nguyên văn; chữ đầu Đại Tượng quẻ Khảm, Chấn dịch theo nghĩa).
  • Chu Dịch, Thoán truyện quẻ Khảm và quẻ Cấn (trích nguyên văn).
  • Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, đoạn tính tám quẻ (trích nguyên văn).
  • Kinh Phòng, Kinh Thị Dịch Truyện: phép tám cung và nạp giáp (dẫn đại ý; bảng nạp chi lập lại theo phép thông dụng của Lục Hào).
  • Tăng San Bốc Dịch: lời bàn về quẻ lục xung, lục hợp (dẫn đại ý).
  • Quẻ hỗ tính bằng công cụ Kinh Dịch của aihuyenhoc.com, đối chiếu tay.

Câu hỏi thường gặp

Bát thuần quái gồm những quẻ nào?

Gồm tám quẻ do một quẻ đơn chồng lên chính nó: Thuần Càn (1), Thuần Khôn (2), Thuần Khảm (29), Thuần Ly (30), Thuần Chấn (51), Thuần Cấn (52), Thuần Tốn (57), Thuần Đoài (58).

Vì sao quẻ thuần không có hào ứng?

Vì hào ứng phải là một âm một dương ở các cặp 1–4, 2–5, 3–6. Quẻ trên và quẻ dưới của quẻ thuần giống hệt nhau nên mỗi cặp đều cùng âm hoặc cùng dương; Thoán truyện quẻ Cấn gọi là "trên dưới đối nhau mà không cùng nhau".

Quẻ lục xung là gì, có phải quẻ xấu không?

Là quẻ mà sau khi nạp can chi, ba cặp hào đối nhau đều mang hai chi xung. Có mười quẻ như vậy: tám quẻ thuần cùng Vô Vọng và Đại Tráng. Lục xung chỉ thế tan, khó kết, không tự nó là xấu.

Vì sao Đại Tượng quẻ Ly nói "đại nhân" chứ không nói "quân tử"?

Vì câu ấy nói chuyện "kế minh", nối ánh sáng soi khắp bốn phương, là việc của người ở ngôi lớn truyền nối cho đời sau. Trong tám quẻ thuần, chỉ Đại Tượng của Ly dùng chữ "đại nhân".

Tập Khảm nghĩa là gì?

Thoán truyện giải "tập Khảm" là hiểm chồng lên hiểm. Chữ "tập" còn có nghĩa luyện tập, nên Đại Tượng khuyên người quân tử luyện đức hạnh và việc dạy dỗ cho thành nếp, như nước gặp hố vẫn chảy tiếp.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn tám quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly, Chấn, Cấn, Tốn, Đoài — lời quẻ, lời hào, Đại Tượng · Chu Dịch — Thoán truyện quẻ Khảm, quẻ Cấn — Tập Khảm, trùng hiểm dã · thượng hạ địch ứng, bất tương dữ dã · Chu Dịch — Thuyết Quái truyện — Càn, kiện dã; Khôn, thuận dã… · Kinh Thị Dịch Truyện — Kinh Phòng — tám cung, nạp giáp · Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy biên — lời bàn về quẻ lục xung

Thái và Bĩ: "bĩ cực thái lai" đọc từ đúng hai quẻ trong Kinh DịchBĩ cực thái lai có gốc ở hai quẻ Thái, Bĩ: vì sao đất trên trời lại là thông, trời trên đất là bế tắc, và câu "khuynh Bĩ, tiên Bĩ…
Những quẻ được coi là tốt nhất trong Kinh Dịch và chỗ "thịnh quá thì suy"Quẻ tốt nhất Kinh Dịch là quẻ nào? Thái, Đại Hữu, Khiêm được nêu nhiều nhất, nhưng hào trên cùng của quẻ thịnh thường đã chớm suy…
Quẻ có tên dễ hiểu lầm: Vô Vọng không phải "hết hy vọng", Quy Muội không phải quẻ xấu, Đại Quá không phải "quá đáng"Quẻ Vô Vọng không phải hết hy vọng: chữ Vọng là càn bậy. Tám tên quẻ người Việt hay đọc lệch, đặt cạnh nghĩa chữ Hán gốc theo Thu…
Thành ngữ tiếng Việt gốc Kinh Dịch: cách cố đỉnh tân, tự cường bất tức, cùng tắc biến…Thành ngữ gốc Kinh Dịch: tự cường bất tức, cùng tắc biến, cách cố đỉnh tân, quần long vô thủ… ghi đúng quẻ, câu gốc, và mấy câu h…
Đọc tên quẻ thế nào: "Thủy Lôi Truân" là trên Thủy dưới Lôi, mẹo nhớ 64 tên trong một tuầnCách đọc tên quẻ Kinh Dịch: chữ đầu là quẻ trên, chữ thứ hai là quẻ dưới, phần sau là tên. Bài ca Chu Hy, bảng tra theo tên, lịch…
Quẻ Kinh Dịch về tiền của: Tổn, Ích, Đại Súc, Tiểu Súc và cách đọc không hứa hẹnQuẻ dịch về tài lộc: Tổn là bớt dưới thêm trên, Ích là bớt trên thêm dưới, Tiểu Súc và Đại Súc là chứa giữ. Bốn quẻ dạy cách giữ,…