Quẻ Thuần Ly (30): lửa phải nương vào vật mới sáng
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Bám vào mà sáng; lửa phải nương vật mới cháy.
Quẻ Ly là quẻ số 30, lửa chồng lên lửa, quẻ cuối của Thượng Kinh. Ly có hai nghĩa đi liền: sáng, và bám vào. Lửa không tự cháy, phải nương vào củi; mặt trời mặt trăng phải nương vào trời. Lời quẻ: lợi giữ chính, thông; nuôi bò cái thì tốt. Sáng mà biết nương đúng chỗ, mềm mà không tranh.
Hình quẻ: một vạch mềm kẹp giữa hai vạch cứng
Quẻ đơn Ly là ngược của Khảm: một hào âm ở giữa hai hào dương. Bên ngoài sáng rỡ, bên trong rỗng, như ngọn lửa: viền ngoài rực, lõi giữa trống. Cái rỗng ấy là chỗ để nương, để đón.
Thoán truyện mở bằng định nghĩa: "Ly, lệ dã", Ly là nương bám. Rồi giảng: mặt trời mặt trăng bám vào trời, trăm thứ lúa cây cỏ bám vào đất; ánh sáng chồng đôi mà bám vào lẽ chính thì giáo hoá thành thiên hạ. Không có gì sáng được một mình.
Lời quẻ: nuôi bò cái thì tốt
"Ly, lợi trinh, hanh; súc tẫn ngưu cát." Lợi giữ chính, thông; nuôi bò cái thì tốt.
Bò là con vật thuận, bò cái thì thuận thêm một lần. Quẻ toàn lửa, dễ bốc, dễ nóng; nên lời quẻ chọn hình ảnh hiền nhất để cân lại. Cái sáng phải được nuôi bằng sự nhu thuận, nếu không sẽ hoá thành thiêu đốt. Thoán truyện nói thêm: hào mềm bám vào chỗ giữa và chính, nên thông, cho nên nuôi bò cái thì tốt.
Đại Tượng: nối ánh sáng soi khắp bốn phương
"Minh lưỡng tác, Ly; đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phương." Ánh sáng hai lần dấy lên là Ly; bậc đại nhân theo đó nối tiếp ánh sáng mà soi khắp bốn phương.
"Kế minh" là nối sáng: mặt trời hôm nay nối mặt trời hôm qua, người sau nối người trước. Các nhà chú giải đọc đây là chuyện truyền nối, giữ cho sự sáng suốt không đứt giữa các đời.
Sáu hào: một ngày của mặt trời
Các hào Ly hay được đọc như một ngày: buổi sáng bước ra, giữa trưa rực rỡ, chiều xế, rồi lửa bùng mà tàn.
Sơ Cửu. Đại ý: bước chân lộn xộn, kính cẩn thì không lỗi. Sáng sớm, việc vừa bắt đầu, bao nhiêu thứ cùng lúc. Giữ lòng kính cẩn thì không vấp.
Lục Nhị. Đại ý: "hoàng ly, nguyên cát", sáng màu vàng, rất tốt. Vàng là sắc giữa. Hào âm ở giữa quẻ dưới, đúng ngôi: cái sáng vừa độ, không chói. Đây là hào tốt nhất quẻ.
Cửu Tam. Đại ý: ánh sáng lúc mặt trời xế; không gõ chum mà hát thì có tiếng than của người già, xấu. Chiều xuống, ánh sáng sắp hết. Người không biết vui với lúc xế thì chỉ còn than. Lời hào khuyên đón tuổi tác, đón lúc cuối việc bằng sự bình thản.
Cửu Tứ. Đại ý: đột nhiên ập tới, cháy bùng, tàn lụi, bị bỏ. Cái sáng bốc lên quá nhanh, không có gốc, nên lụi cũng nhanh. Hào dương chen giữa hai quẻ Ly, lửa nối lửa mà vô lễ. Một hình ảnh của tiếng tăm hay thế lực đến gấp mà đi cũng gấp.
Lục Ngũ. Đại ý: nước mắt tuôn, than thở buồn rầu, tốt. Ngôi cao mà mềm, bị kẹp giữa hai hào dương. Biết lo, biết buồn cho đúng việc nên giữ được. Lời hào lạ mà sâu: buồn đúng lúc là một kiểu sáng suốt.
Thượng Cửu. Đại ý: vua dùng việc ra quân, có điều đáng khen là chặt được kẻ đầu sỏ, bắt người không phải phe ấy, không lỗi. Dùng sự sáng để phân biệt: xử đúng kẻ cầm đầu, tha cho người a theo. Sáng không có nghĩa là quét hết.
Gieo được quẻ Ly nên đọc thế nào
- Việc làm: thời để làm rõ, công khai, trình bày. Nhưng cái sáng phải bám vào một nền thật: sản phẩm, năng lực, đồng đội. Tiếng tăm không có gốc như hào Cửu Tứ thì lụi nhanh.
- Quan hệ: Ly là bám vào nhau. Câu hỏi là mình đang nương vào ai và cho ai nương vào. Mềm như bò cái, không tranh phần sáng của người kia.
- Việc đang chờ: nếu hào động ở Cửu Tam, đó là lúc việc đã qua đỉnh; đón nó bằng sự bình thản thay vì cố níu. Quẻ không định ngày, chỉ chỉ ra mình đang ở buổi nào của ngày.
Quẻ trước, quẻ sau, quẻ đảo, quẻ đối
Trước Ly là Khảm (29), cũng là quẻ đối của nó; theo Tự Quái, người đã rơi xuống chỗ hãm thì tất tìm thứ để níu, và Ly chính là sự níu ấy. Ly lộn ngược vẫn là Ly. Ly khép lại Thượng Kinh; sau đó Hạ Kinh mở bằng Hàm (31). Tự Quái phần hạ không nối thẳng Ly với Hàm, mà bắt đầu lại từ đầu: có trời đất rồi có muôn vật, có muôn vật rồi có nam nữ, rồi có vợ chồng.
☯️Gieo quẻ Kinh DịchGieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Ly nghĩa là chia ly hay là sáng?
Chữ Ly ngoài đời có nghĩa lìa, nhưng ở tên quẻ thì Thoán truyện giảng bằng chữ "lệ", tức nương bám, và tượng của nó là lửa, là sáng.
Vì sao quẻ lửa lại nói chuyện nuôi bò cái?
Để cân sức nóng của hai lớp lửa bằng tính nhu thuận nhất. Sáng mà không thuận thì dễ thiêu đốt.
Hào Cửu Tứ có phải điềm cháy nhà?
Không nên đọc như vậy. Đó là hình ảnh của cái đến gấp, bùng lên rồi tàn vì không có gốc; áp vào việc nhiều hơn là vào nhà cửa.
Vì sao Thượng Kinh kết thúc ở Khảm và Ly?
Thượng Kinh mở bằng Càn Khôn, trời đất, khép bằng Khảm Ly, nước lửa, tức từ cái thể tới cái dụng của âm dương.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Ly — Ly, lợi trinh, hanh; súc tẫn ngưu cát; Lục Nhị: hoàng ly, nguyên cát · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện quẻ Ly — Ly, lệ dã; Minh lưỡng tác, Ly; đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phương · Chu Dịch — Tự Quái truyện
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế