Quẻ Lôi Thủy Giải (40): nạn qua rồi thì làm sớm

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 40
40. Lôi Thủy Giải
Chấn trên · Khảm dưới
Lôi Thủy Giải

Cởi gỡ; nạn đã qua thì mau ổn định.

Lôi Thủy Giải là quẻ thứ 40, Chấn (sấm) ở trên, Khảm (nước, mưa) ở dưới: sấm động, mưa rơi, cái căng tích lâu được tháo ra. Giải là cởi gỡ. Lời quẻ dặn hai điều: nạn qua rồi thì quay về ổn định; còn việc phải làm thì làm sớm. Chữ then chốt của quẻ là "túc", sớm.

Tượng quẻ: sấm mưa và cây nứt vỏ

Khảm là hiểm, ở trong; Chấn là động, ở ngoài. Động mà ra khỏi được hiểm, ấy là Giải. Thoán truyện tả một cảnh đầu xuân: "Thiên địa giải nhi lôi vũ tác, lôi vũ tác nhi bách quả thảo mộc giai giáp sách", trời đất cởi ra thì sấm mưa nổi, sấm mưa nổi thì trăm thứ quả, cỏ cây đều nứt vỏ. Cái mầm bị giam cả mùa đông giờ bung ra.

Giải là Thủy Sơn Kiển lật ngược. Ở Kiển, hiểm nằm phía trước; ở Giải, hiểm đã lùi về phía sau.

Lời quẻ và Thoán truyện

Lời quẻ: "Giải, lợi Tây Nam; vô sở vãng, kỳ lai phục cát; hữu du vãng, túc cát." Lợi Tây Nam; không còn chỗ phải đi thì quay về là tốt; có chỗ phải đi thì đi sớm là tốt.

Hai vế nghe ngược nhau nhưng chung một ý: sau một cơn biến, đừng lưng chừng. Việc đã xong thì về lại nếp thường cho nhanh; việc còn dở thì xử ngay khi đường vừa thông, để lâu sẽ đông lại. Thoán truyện kết: "Giải chi thời đại hĩ tai", thời Giải lớn thay.

Đại Tượng: tha lỗi, khoan tội

Lôi vũ tác, Giải; quân tử dĩ xá quá hựu tội.

Sấm mưa nổi lên là Giải; người quân tử nhân đó tha cho lỗi lầm, khoan cho tội. Sau một cuộc căng thẳng, kẻ thắng hay muốn truy cho tới cùng. Quẻ khuyên ngược lại: mưa xuống thì đất dịu, đừng giữ mây đen trên đầu người khác thêm nữa.

Sáu hào

Sơ lục — "Vô cữu"

Không lỗi. Hai chữ, gọn nhất trong quẻ. Nạn vừa cởi, hào mềm ở dưới lại có hào bốn ứng, cứ yên mà nghỉ.

Cửu nhị — "Điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh cát"

Đi săn được ba con cáo, được mũi tên vàng; giữ chính thì tốt. Cáo là kẻ gian quỷ quyệt, vàng là màu của đường giữa, tên là sự thẳng. Trừ cái gian bằng cách thẳng và vừa phải.

Lục tam — "Phụ thả thừa, trí khấu chí, trinh lận"

Vừa vác đồ vừa ngồi xe, rước giặc tới; cố giữ thì đáng tiếc. Kẻ ở chỗ không xứng mà phô cái mình có. Hệ Từ truyện bàn hào này, đại ý: hạng người vác đồ lại ngồi xe của bậc trên thì kẻ cướp sẽ nghĩ tới chuyện cướp; và câu "mạn tàng hối đạo", cất của lơ là là dạy kẻ trộm.

Cửu tứ — "Giải nhi mẫu, bằng chí tư phu"

Cởi ngón chân cái ra khỏi chỗ bám, bạn tới mới tin. Hào bốn bị hào ba, hào đầu níu ở dưới. Gỡ khỏi người không đáng gần thì người đáng tin mới tìm tới.

Lục ngũ — "Quân tử duy hữu giải, cát; hữu phu vu tiểu nhân"

Người quân tử gỡ được thì tốt; lấy chỗ kẻ tiểu nhân chịu lui làm bằng. Muốn biết mình đã gỡ được chưa, xem kẻ đáng lui đã lui chưa.

Thượng lục — "Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chi, vô bất lợi"

Bậc công bắn chim cắt đậu trên tường cao, được, không gì không lợi. Hệ Từ giải: người quân tử cất đồ nghề trong mình, chờ thời mà động. Tên bắn một phát trúng là nhờ đã giương sẵn cung từ trước.

Gieo được Giải thì đọc thế nào

Việc làm. Việc bế tắc đã có lối. Đây là lúc dọn tồn đọng, đóng hồ sơ cũ, quyết những điều để treo quá lâu. Lục tam là lời cảnh báo cho người vừa thoát khó: đừng phô ra cái vừa có.

Quan hệ. Lúc làm lành. Đại Tượng nói thẳng: tha lỗi. Đừng kể lại chuyện cũ mỗi lần gặp; cũng như hào bốn, nên gỡ mình khỏi những mối chỉ biết níu.

Việc chờ đợi. Việc đang chờ thường đã chuyển động. Đọc kỹ chữ "túc": tới lúc thì làm ngay, chậm trễ là để cái vừa cởi buộc lại.

Giải tả một thời được tháo gỡ; nó không hứa mọi khó khăn đều đã hết.

Quẻ trước, quẻ sau và các quẻ liên quan

Tự Quái truyện, đại ý: vật không thể khó mãi, nên sau Kiển là Giải, "Giải là thong thả"; thong thả quá thì ắt có chỗ mất, nên sau Giải là Sơn Trạch Tổn. Tạp Quái cũng gói đôi: Giải là thong, Kiển là nạn.

  • Quẻ đảo: Kiển. Nạn và lúc nạn được cởi.
  • Quẻ đối: Phong Hỏa Gia Nhân. Giải là tháo ra, Gia Nhân là buộc lại thành nếp; sau khi tháo, cần nếp mới.
  • Quẻ hỗ: Thủy Hỏa Ký Tế, việc đã xong. Bên trong cái cởi gỡ là một việc đã thành, chỉ cần giữ.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Gieo được Giải có phải mọi khó khăn đã qua?

Giải tả lúc nút thắt chính đã cởi. Còn việc dở thì lời quẻ khuyên làm sớm; để lâu nó có thể đông lại.

"Phụ thả thừa, trí khấu chí" muốn nói gì?

Người vừa có chút gì đã phô ra, vừa vác đồ vừa ngồi xe sang, khiến kẻ xấu để ý. Hệ Từ dùng câu này để nói cất giữ lơ là là tự mời kẻ trộm.

Vì sao quẻ Giải lại khuyên tha lỗi?

Sau một cơn căng, truy tới cùng chỉ gây thêm nút mới. Mưa xuống để đất dịu, tha lỗi để quan hệ thông lại.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Giải — lời quẻ, lời sáu hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện — Lôi vũ tác, Giải · Chu Dịch — Hệ Từ truyện thượng, hạ — lời bàn hào lục tam và hào thượng lục quẻ Giải · Chu Dịch — Tự Quái truyện, Tạp Quái truyện

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế