Quẻ Hỏa Địa Tấn (35): mặt trời ló khỏi mặt đất

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 35
35. Hỏa Địa Tấn
Ly trên · Khôn dưới
Hỏa Địa Tấn

Tiến lên như mặt trời ló khỏi mặt đất; được trọng dụng.

Hỏa Địa Tấn là quẻ thứ 35, Ly (lửa, mặt trời) ở trên, Khôn (đất) ở dưới: mặt trời vừa lên khỏi mặt đất. Tấn là tiến. Lời quẻ kể một cảnh: bậc Khang Hầu được ban nhiều ngựa, một ngày được tiếp ba lần. Đây là quẻ của lúc được biết tới, được dùng, và sáu hào nhắc tiến thế nào cho bền.

Tượng quẻ: sáng ra trên mặt đất

Khôn là thuận, Ly là sáng và là nơi bám vào. Ánh sáng mọc lên từ đất, đất nhận lấy ánh sáng: dưới thuận theo, trên rõ ràng. Hào làm chủ quẻ là lục ngũ, một hào âm ở ngôi tôn, như bậc trên mềm mỏng mà sáng suốt, biết trọng người dưới.

Tấn nên đặt cạnh Địa Phong Thăng để thấy chỗ khác. Thăng là cây lớn từ trong đất, lên dần từng chút. Tấn là mặt trời ra khỏi đất, ai cũng nhìn thấy. Thăng nói về tích lũy, Tấn nói về được ghi nhận.

Lời quẻ và Thoán truyện

Lời quẻ: "Tấn, Khang Hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp." Bậc hầu yên dân được ban ngựa nhiều, trong một ngày được tiếp ba lần. Nhà chú cũ đọc "Khang Hầu" là một danh xưng chung, bậc chư hầu làm yên dân; một số nhà nghiên cứu hiện đại cho là tên người thật đầu nhà Chu. Cách nào thì cảnh vẫn là người có công được bề trên trọng đãi.

Thoán truyện mở bằng câu ngắn "Tấn, tiến dã", rồi giải đại ý: sáng ra trên đất, thuận mà nương vào ánh sáng lớn, cái mềm tiến lên chỗ cao, vì thế mới có cảnh được ban ngựa, được tiếp ba lần. Cái tiến ở đây đến từ thuận và sáng, không đến từ giành giật.

Đại Tượng: tự làm sáng đức của mình

Minh xuất địa thượng, Tấn; quân tử dĩ tự chiêu minh đức.

Ánh sáng ra trên đất là Tấn; người quân tử nhân đó tự mình làm rõ cái đức sáng. Chữ đáng để ý là "tự". Mặt trời không nhờ ai đẩy lên. Được người biết đến là chuyện của người, còn làm cho mình đáng được biết đến là phần của mình.

Sáu hào

Sơ lục — "Tấn như tồi như, trinh cát. Võng phu, dụ vô cữu"

Tiến mà bị đẩy lui; giữ chính thì tốt. Người chưa tin mình, cứ rộng lòng thì không lỗi. Bước đầu bị gạt là chuyện thường của người mới; giận dỗi lúc này mới là hỏng.

Lục nhị — "Tấn như sầu như, trinh cát. Thụ tư giới phúc, vu kỳ vương mẫu"

Tiến mà lo âu; giữ chính thì tốt, sẽ nhận phúc lớn từ bậc vương mẫu. Hào hai trung chính nhưng trên không có ứng, nên lo. Nhà chú hiểu "vương mẫu" là hào lục ngũ, cũng âm, cũng giữa: người trên cùng khí chất rồi sẽ nhận ra mình.

Lục tam — "Chúng duẫn, hối vong"

Mọi người cùng tin, hối tiêu. Hào này không trung không chính, lẽ ra đáng tiếc; nhưng đi cùng hai hào âm dưới, được đám đông tin, nên vẫn tiến được.

Cửu tứ — "Tấn như thạch thử, trinh lệ"

Tiến như con chuột đồng; cố giữ thì nguy. Hào dương ở ngôi không xứng, ngồi sát ngôi tôn, tham chỗ cao mà sợ bị lộ. Chuột đồng ăn vụng được nhờ trời tối; Tấn là thời ban ngày.

Lục ngũ — "Hối vong, thất đắc vật tuất; vãng cát, vô bất lợi"

Hối tiêu; được mất đừng lo, đi thì tốt, không gì không lợi. Người ở ngôi sáng mà không tính toán được mất thì việc tự sáng.

Thượng cửu — "Tấn kỳ giác, duy dụng phạt ấp; lệ cát, vô cữu, trinh lận"

Tiến tới đầu sừng, chỉ nên dùng để sửa trị ấp của mình; nguy mà tốt, không lỗi, cứ khư khư thì đáng tiếc. Tiến đến chỗ cùng thì quay vào chỉnh đốn bên trong, đừng đem sức ra ngoài nữa.

Gieo được Tấn thì đọc thế nào

Việc làm. Tấn hợp với việc đưa ra ánh sáng: trình bày đề án, nộp hồ sơ, ra mắt sản phẩm, nhận vai mới. Hào đầu dặn trước rằng lần đầu có thể bị gạt; hào bốn dặn đừng nhận chỗ vượt sức mình chỉ vì đang được để ý.

Quan hệ. Có người phía trên đang nhìn mình. Cách giữ mối ấy là làm sáng phần việc, không phải đi đường tắt. Lục nhị cho thấy có lúc phải chịu một giai đoạn lo lắng, chưa ai đáp lại.

Việc chờ đợi. Tín hiệu nghiêng về tiến. Lời hào năm là lời khuyên gọn nhất cho người đang chờ: được mất đừng lo.

Gieo được Tấn không có nghĩa sẽ được thăng chức; quẻ chỉ mô tả một thế thuận và cách đi trong thế ấy.

Quẻ trước, quẻ sau và các quẻ liên quan

Tự Quái truyện, đại ý: vật không thể mạnh mãi nên sau Lôi Thiên Đại Tráng là Tấn; và câu nổi tiếng "Tiến tất hữu sở thương, cố thụ chi dĩ Minh Di", tiến thì ắt có chỗ bị thương, nên tiếp bằng Địa Hỏa Minh Di.

  • Quẻ đảo: Minh Di, mặt trời lặn vào đất. Tạp Quái gọi Tấn là ban ngày, Minh Di là bị hại.
  • Quẻ đối: Thủy Thiên Nhu. Nhu là chờ, Tấn là tiến; một cặp nên đọc chung khi phân vân giữa đợi và đi.
  • Quẻ hỗ: Thủy Sơn Kiển. Bên trong cái tiến có cái khó, đúng như hào đầu và hào bốn cảnh báo.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Khang Hầu trong lời quẻ Tấn là ai?

Sách chú truyền thống hiểu là bậc chư hầu làm yên dân, không chỉ đích danh. Một số nhà nghiên cứu hiện đại cho là một nhân vật thật thời đầu nhà Chu; chưa có kết luận chung.

Quẻ Tấn và quẻ Thăng khác nhau thế nào?

Thăng là lên dần từ dưới nhờ tích lũy; Tấn là ra chỗ sáng, được người thấy và dùng. Một bên nói về sức bên trong, một bên nói về sự ghi nhận.

"Tấn như thạch thử" nên hiểu ra sao?

Đó là người tiến lên chỗ không xứng, vừa tham vừa sợ, như con chuột đồng. Lời hào khuyên đừng bám giữ chỗ ấy.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Tấn — lời quẻ, lời sáu hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện — Tấn, tiến dã; Minh xuất địa thượng · Chu Dịch — Tự Quái truyện, Tạp Quái truyện

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế