Quẻ Thủy Phong Tỉnh (48): làng đổi mà giếng không đổi
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Cái giếng; làng đổi mà giếng không đổi, múc mãi không cạn.
Thủy Phong Tỉnh là quẻ thứ 48, Khảm (nước) ở trên, Tốn (gỗ) ở dưới: chiếc gầu gỗ thả xuống, kéo nước lên. Tỉnh là cái giếng. Lời quẻ: đổi làng mà không đổi giếng, không mất không thêm, người qua kẻ lại đều múc. Giếng nuôi người bền bỉ, nhưng dây gần tới miệng mà làm vỡ bình thì công cốc.
Tượng quẻ: gầu gỗ trong lòng nước
Ở đây Tốn là gỗ, là cái đi vào; Khảm là nước. Gỗ chui vào nước rồi đưa nước lên: đó là cái gầu, cũng là cái giếng. Thoán truyện: "Tốn hồ thủy nhi thượng thủy, Tỉnh. Tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã." Đi vào nước mà đưa nước lên là Tỉnh; giếng nuôi người mà không cùng.
Có nhà chú nhìn sáu vạch như mặt cắt một cái giếng: hào đầu âm là lớp bùn đáy, hào hai và ba dương là mạch nước, hào bốn âm là thành giếng, hào năm dương là nước mát, hào trên âm là miệng giếng để ngỏ. Lời sáu hào đi đúng theo thứ tự ấy, từ đáy lên miệng.
Lời quẻ: hai vế, một lời răn
Lời quẻ: "Tỉnh, cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh. Ngật chí diệc vị duật tỉnh, luy kỳ bình, hung."
Vế đầu tả cái bền của giếng: làng có thể dời, giếng thì nằm nguyên; múc mãi không cạn, để lâu không đầy; ai đi qua cũng múc được. Vế sau đổi giọng: dây gầu gần tới miệng mà chưa kéo lên khỏi giếng, làm vỡ bình, xấu. Cái nguồn tốt mấy cũng vô ích nếu khâu cuối hỏng.
Hệ Từ truyện gọi Tỉnh là "đức chi địa", mảnh đất của đức, và nói "Tỉnh cư kỳ sở nhi thiên", giếng ở yên chỗ mà nước thì đi khắp nơi. Đứng yên mà nuôi được người đi xa.
Đại Tượng: khuyên người làm, giúp nhau
Mộc thượng hữu thủy, Tỉnh; quân tử dĩ lao dân khuyến tướng.
Trên gỗ có nước là Tỉnh; người quân tử nhân đó khuyên dân chăm làm và giúp đỡ nhau. Giếng làng là của chung: cùng đào, cùng thau, cùng dùng. Người đứng đầu một cộng đồng nên làm như giếng, tạo ra cái nguồn mà ai cũng nhờ được.
Sáu hào
Sơ lục — "Tỉnh nê bất thực, cựu tỉnh vô cầm"
Giếng toàn bùn, không uống được; giếng cũ bỏ hoang, chim cũng chẳng tới. Ở đáy, chưa có gì để dùng, bị đời bỏ qua.
Cửu nhị — "Tỉnh cốc xạ phụ, úng tệ lậu"
Hang giếng chỉ đủ cho cá diếc bơi, vò đựng thì thủng dột. Có mạch nước mà không đưa lên được, vì không có người ứng ở trên kéo giúp.
Cửu tam — "Tỉnh tiết bất thực, vi ngã tâm trắc; khả dụng cấp, vương minh, tịnh thụ kỳ phúc"
Giếng đã thau sạch mà không ai uống, khiến lòng ta xót; múc được rồi, vua sáng suốt thì mọi người cùng hưởng phúc. Hình ảnh người có tài mà chưa được dùng, được trích rất nhiều trong văn cổ.
Lục tứ — "Tỉnh trứu, vô cữu"
Xây lại thành giếng, không lỗi. Chưa cho nước, nhưng là lúc sửa sang. Thời tu bổ không phô ra ngoài mà rất cần.
Cửu ngũ — "Tỉnh liệt, hàn tuyền thực"
Giếng trong, nước suối mát, uống được. Ngôi trung chính, cái nguồn đã thành.
Thượng lục — "Tỉnh thu vật mạc, hữu phu nguyên cát"
Múc lên rồi đừng đậy nắp, có lòng tin, cả tốt. Giếng tốt là giếng để ngỏ cho mọi người. Đến hào cuối, cái nguồn chia cho tất cả.
Gieo được Tỉnh thì đọc thế nào
Việc làm. Hợp với việc nền tảng: nghề, hạ tầng, dịch vụ phục vụ đều đặn. Không ra kết quả nhanh nhưng nuôi lâu. Lời răn vỡ bình là lời khuyên soát khâu cuối: sản phẩm tốt mà giao hàng hỏng thì như kéo gầu tới miệng rồi đánh vỡ.
Quan hệ. Người đáng tin như giếng làng: không ồn, nhưng ai cần cũng tìm tới. Hào ba là tình cảnh của người có năng lực chưa được nhận ra; quẻ không bảo bỏ, chỉ chờ người sáng mắt.
Việc chờ đợi. "Không mất không thêm": trạng thái ổn, ít biến. Chỗ phải cẩn thận là lúc gần xong, như vế "ngật chí".
Tỉnh tả cách giữ một nguồn bền, không phải lời báo điều gì sắp đến.
Quẻ trước, quẻ sau và các quẻ liên quan
Tự Quái truyện, đại ý: khốn ở trên thì ắt quay xuống dưới, nên sau Trạch Thủy Khốn là Tỉnh; đạo của giếng không thể không đổi mới, nên sau Tỉnh là Trạch Hỏa Cách. Giếng dùng lâu thì phải thau; nề nếp dùng lâu thì phải đổi.
- Quẻ đảo: Khốn. Đầm cạn thì đào giếng; nước mất ở trên thì tìm ở dưới.
- Quẻ đối: Hỏa Lôi Phệ Hạp, cắn hợp, xử án. Tỉnh nuôi người bằng cái chung, Phệ Hạp giữ trật tự bằng phép tắc.
- Quẻ hỗ: Hỏa Trạch Khuê. Giếng chung mà người dùng mỗi người một ý; giữ được giếng là giữ được chỗ chung giữa những người khác nhau.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Vì sao cái giếng lại thành một quẻ trong Kinh Dịch?
Giếng là nguồn nước chung của cả làng thời cổ, đứng yên mà nuôi mọi người. Kinh dùng nó làm hình ảnh cho cái nền bền bỉ của một cộng đồng.
"Luy kỳ bình" nghĩa là gì?
Là làm vỡ cái bình múc nước khi dây gầu đã gần tới miệng giếng. Ý răn: việc gần xong mà hỏng khâu cuối thì công sức trước đó coi như mất.
Định đổi việc mà gieo được Tỉnh thì hiểu sao?
Lời quẻ "đổi làng mà không đổi giếng" gợi phân biệt cái đổi được và cái nên giữ. Nơi làm có thể đổi, còn tay nghề và cái nền của mình thì mang theo.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Tỉnh — lời quẻ, lời sáu hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện — Tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã; Mộc thượng hữu thủy · Chu Dịch — Hệ Từ truyện hạ — Tỉnh, đức chi địa dã; Tỉnh cư kỳ sở nhi thiên · Chu Dịch — Tự Quái truyện
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế