Quẻ Lôi Địa Dự (16): sấm ra khỏi đất, vui và sẵn sàng
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Vui và sẵn sàng; sấm ra khỏi đất, lợi dựng người, động quân.
Lôi Địa Dự là quẻ số 16: Chấn (sấm) ở trên, Khôn (đất) ở dưới. Dự có hai nghĩa đi liền nhau: vui vẻ, và sẵn sàng từ trước. Lời quẻ nói lợi ở chỗ dựng người giúp và ra quân, vì lòng người đang thuận. Sáu hào lại phân biệt rất kỹ niềm vui đúng lúc với niềm vui khoe khoang, vui dựa dẫm và vui chìm đắm.
Tượng quẻ: sấm bật lên khỏi mặt đất
Đại Tượng tả: "lôi xuất địa phấn", sấm ra khỏi đất, vang dậy. Đó là tiếng sấm đầu xuân, khi khí dương nằm dưới đất cả mùa đông bật lên được; muôn vật theo đó mà tỉnh. Khôn ở dưới là thuận, Chấn ở trên là động. Thoán truyện gọi thế ấy là "thuận dĩ động", thuận rồi mới động.
Thoán truyện mở rộng ý này thành một câu về trật tự trời đất: trời đất động theo lẽ thuận nên mặt trời mặt trăng không đi sai, bốn mùa không lệch; bậc thánh động theo lẽ thuận nên hình phạt nhẹ mà dân vẫn phục. Rồi khen: "Dự chi thời nghĩa đại hĩ tai", tức cái thời của niềm vui này mang ý nghĩa rất lớn.
Chủ của quẻ là Cửu Tứ, hào dương duy nhất, đứng ở dưới cùng quẻ Chấn; năm hào âm đều hướng về nó. Thoán truyện nói "cương ứng nhi chí hành", hào cứng được hưởng ứng nên chí được thực hiện. Người khởi xướng không ở ngôi vua mà ở ngôi đại thần.
Lời quẻ
Dự: lợi kiến hầu hành sư.
Lợi dựng chư hầu, lợi ra quân. Hai việc này đều cần lòng người theo; lúc người ta vui và sẵn lòng là lúc dễ khởi việc lớn. Chữ Dự ở đây gánh cả nghĩa "dự bị": việc lớn thành được khi đã chuẩn bị trước trong lúc mọi thứ còn êm.
Đại Tượng
Lôi xuất địa phấn, Dự; tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi Thượng Đế, dĩ phối tổ khảo.
Các vua đời trước theo đó làm nhạc, tôn đức, long trọng dâng lên Thượng Đế, phối thờ cùng tổ tiên. Tiếng sấm gợi tới tiếng nhạc. Niềm vui chung của một cộng đồng được nâng lên thành lễ nhạc, tức có hình thức, có chừng mực, hướng về điều đáng kính, thay vì tản ra thành buông thả.
Sáu hào
Sơ Lục. "Minh dự, hung." Vui mà kêu vang lên, xấu. Hào dưới cùng ứng với Cửu Tứ, được người trên để ý thì đem ra khoe; vui ở chỗ ấy là sớm và nông.
Lục Nhị. "Giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát." Vững như đá, không đợi hết ngày, giữ chính thì tốt. Giữa lúc mọi người cùng vui, hào này không bị cuốn theo, và thấy điều không ổn thì dứt ngay trong ngày. Hệ Từ hạ lấy hào này để bàn chữ "cơ": "tri cơ kỳ thần hồ", biết được cái mầm nhỏ của việc thì như thần; "giới như thạch yên, ninh dụng chung nhật", đã vững như đá thì cần gì đợi hết ngày.
Lục Tam. "Hu dự, hối; trì hữu hối." Ngửa mặt trông lên mà vui, có điều hối; chậm trễ cũng hối. Hào âm sát dưới Cửu Tứ, vui vì dựa vào người trên; dựa thì hối, mà chần chừ không tự đứng cũng hối.
Cửu Tứ. "Do dự, đại hữu đắc; vật nghi, bằng hạp trâm." Niềm vui từ đây mà ra, được lớn; đừng ngờ vực, bạn bè sẽ tụ lại như tóc gom vào cây trâm. Chữ "do dự" ở hào này viết là "do" nghĩa là "từ đó", hoàn toàn khác với "do dự" nghĩa lưỡng lự trong tiếng Việt hằng ngày; đọc nhầm là hiểu ngược hẳn ý hào.
Lục Ngũ. "Trinh tật, hằng bất tử." Giữ chính mà mang bệnh, lâu dài mà vẫn trụ được. Ở ngôi vua mà quyền thật nằm ở Cửu Tứ phía dưới; tình thế không thoải mái nhưng nhờ ở giữa nên giữ được.
Thượng Lục. "Minh dự, thành hữu du, vô cữu." Vui đến mờ tối, nhưng việc đã thành mà biết đổi thì không lỗi. Chữ "minh" ở hào này khác chữ "minh" ở hào Sơ: dưới là tiếng kêu, trên là bóng tối. Vui quá thì mù, nhưng còn đường quay lại.
Gieo được quẻ Dự nên đọc thế nào
- Việc làm: thời lòng người thuận, hợp để khởi động việc đã chuẩn bị, kêu gọi người cùng làm. Cửu Tứ cho thấy người khởi xướng không cần ở vị trí cao nhất, cần là được tin. Sơ Lục là lời nhắc đừng khoe trước khi làm.
- Quan hệ: vui vẻ dễ gần, nhưng Lục Tam nhắc vui vì dựa vào người khác thì về sau hối. Lục Nhị là mẫu người giữ được mình giữa cuộc vui chung.
- Việc đang chờ: nếu hào động là Lục Ngũ, việc có thể kéo dài, giữ được mà chưa dứt. Nếu câu hỏi là về sức khoẻ, quẻ chỉ là gợi ý suy ngẫm; việc khám và chữa là của thầy thuốc.
Dự đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ
Quẻ liền trước là Địa Sơn Khiêm (15): có lớn mà khiêm thì ắt vui. Tự Quái đi tiếp: đã vui thì ắt có người đi theo, nên sau Dự là Trạch Lôi Tùy (17).
Lật ngược Dự ra Khiêm, đó là quẻ đảo; hào dương duy nhất ở ngôi Ba thì khiêm, lên ngôi Bốn thì thành người khởi xướng niềm vui. Tạp Quái truyện nhắc mặt trái của Dự là "đãi", lười nhác. Âm dương đảo cả thì thành quẻ đối Phong Thiên Tiểu Súc (9): một bên buông sức ra, một bên giữ sức lại. Quẻ hỗ là Thủy Sơn Kiển (39), gian nan: bên trong cuộc vui có khi đã giấu chỗ vướng, nên Lục Nhị mới phải dứt trong ngày.
☯️Gieo quẻ Kinh DịchGieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Quẻ Dự là quẻ tốt hay xấu?
Lời quẻ thuận cho việc khởi lớn. Hai hào Sơ và Thượng cảnh báo vui khoe khoang và vui chìm đắm, nên tốt hay không tuỳ hào động.
Chữ "do dự" trong quẻ Dự có phải là lưỡng lự?
Không. Ở hào Cửu Tứ, "do" nghĩa là "từ đó", tức niềm vui từ hào này mà ra. Lời hào còn dặn thêm "vật nghi", đừng ngờ vực.
Vì sao Đại Tượng quẻ Dự nói về làm nhạc?
Vì tiếng sấm gợi tiếng nhạc, và nhạc là cách người xưa đưa niềm vui chung vào khuôn phép, hướng về điều đáng kính.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Dự — lời quẻ, sáu lời hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng quẻ Dự — Thuận dĩ động, Dự; Dự chi thời nghĩa đại hĩ tai; Lôi xuất địa phấn, Dự; tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức · Chu Dịch — Hệ Từ truyện hạ — Tri cơ kỳ thần hồ; giới như thạch yên, ninh dụng chung nhật · Chu Dịch — Tự Quái, Tạp Quái truyện
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế