Quẻ Lôi Hỏa Phong (55): thịnh lớn như mặt trời đứng bóng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026

Quẻ 55
55. Lôi Hỏa Phong
Chấn trên · Ly dưới
Lôi Hỏa Phong

Thịnh lớn; mặt trời đứng bóng rồi sẽ xế.

Quẻ Phong là quẻ số 55, Chấn (sấm) ở trên, Ly (lửa, chớp) ở dưới. Phong là đầy, thịnh lớn. Lời quẻ bảo đừng lo, hãy như mặt trời giữa trưa soi khắp. Nhưng Thoán truyện nói ngay câu tiếp: mặt trời đứng bóng thì sẽ xế, trăng tròn thì sẽ khuyết. Quẻ dạy cách sống ở đỉnh cao mà không quên chiều tối.

Tượng quẻ: sáng ở trong, động ở ngoài

Ly ở dưới là sáng suốt, Chấn ở trên là hành động. Thoán truyện gói bằng ba chữ "minh dĩ động": sáng mà động, nên thịnh. Có hiểu biết mới làm, làm thì làm mạnh, đó là công thức của mọi thời thịnh.

Hình ảnh cũng là sấm và chớp cùng đến một lúc, một cơn dông lớn giữa trời. Thứ ánh sáng mạnh nhất lại đến cùng cái tối nhất của mây dông. Sáu hào của quẻ dùng đúng nghịch lý ấy: giữa trưa mà thấy sao.

Lời quẻ và Thoán truyện

"Phong: hanh, vương cách chi; vật ưu, nghi nhật trung." Thịnh thì thông, bậc vua mới đạt tới được; chớ lo, nên như mặt trời giữa trưa.

Thoán truyện có đoạn được trích nhiều nhất của quẻ: "Nhật trung tắc trắc, nguyệt doanh tắc thực; thiên địa doanh hư, dữ thời tiêu tức, nhi huống ư nhân hồ?" Mặt trời giữa trưa thì xế, trăng đầy thì khuyết; trời đất đầy vơi còn theo thời mà lớn nhỏ, huống chi là người? Câu "chớ lo" của lời quẻ vì vậy không phải lời ru ngủ. Nó bảo: đừng lo vì sắp xế, hãy soi cho khắp lúc còn đang sáng.

Đại Tượng: xử án như sấm chớp

"Lôi điện giai chí, Phong; quân tử dĩ chiết ngục trí hình." Sấm chớp cùng đến; người quân tử theo đó mà xử đoán việc kiện, thi hành hình phạt.

Chớp là soi cho rõ, sấm là quyết cho dứt. Lúc thịnh là lúc người ta có quyền lực nhất, và cũng dễ trễ nải nhất. Đại Tượng giao cho thời thịnh một việc khó: phân xử cho minh bạch, nhanh mà không mù. Quẻ Phệ Hạp (21) cũng là sấm chớp, chỉ đảo chỗ trên dưới, và Đại Tượng ở đó cũng nói về hình phạt.

Lời sáu hào: giữa trưa mà thấy sao

Sơ Cửu. Đại ý: gặp được người chủ xứng đôi, tuy ngang nhau mà không lỗi, đi thì được trọng. Hào một ứng với hào bốn, cả hai đều là dương; ngang sức nên giúp được nhau.

Lục Nhị. Đại ý: che rèm cho dày, giữa trưa thấy sao Đẩu; đi thì bị nghi ngờ; có lòng tin mà khơi mở thì tốt. Bị che lấp giữa lúc đáng sáng nhất, người có tài mà người trên tối. Đừng vội đi chứng minh, hãy để lòng thành tự mở đường.

Cửu Tam. Đại ý: che bằng màn lớn hơn nữa, giữa trưa thấy cả sao nhỏ; gãy cánh tay phải, không lỗi. Bóng tối dày thêm, đến sao nhỏ cũng hiện. Gãy tay phải là mất khả năng làm việc lớn; biết vậy mà không cố thì không có lỗi.

Cửu Tứ. Đại ý: che rèm dày, giữa trưa thấy sao Đẩu; gặp người chủ cùng chí, tốt. Hình tối giống hào hai, nhưng hào bốn tìm được người ngang mình ở dưới (hào một) để cùng làm.

Lục Ngũ. Đại ý: đem người có tài đến, có phúc có tiếng khen, tốt. Hào âm ở ngôi vua, tự mình không đủ sáng thì mời người sáng về. Đây là lối ra của cả quẻ.

Thượng Lục. Đại ý: làm nhà cho thật lớn, che kín cả nhà, nhìn qua cửa thì vắng lặng không người, ba năm không thấy ai, xấu. Thịnh tới mức xây tường quanh mình thì không còn ai bên cạnh. Đây là hình ảnh người thành đạt tự cô lập.

Chuyện "giữa trưa thấy sao" khiến một số nhà nghiên cứu hiện đại nghĩ quẻ này còn giữ ký ức về một lần nhật thực. Đó là giả thuyết, nhưng nó giúp hiểu hình ảnh: ánh sáng lớn nhất cũng có lúc bị che.

Gieo được quẻ Phong thì đọc thế nào

  • Việc làm: quẻ thường đến khi công việc đang lên. Thoán truyện không bảo kìm lại; nó bảo tận dụng lúc sáng để soi cho khắp, sắp xếp những chỗ còn tối. Hào năm gợi việc nên làm nhất lúc này: mời người giỏi hơn mình về.
  • Quan hệ: hào sáu là lời nhắc cho người đang thành đạt: nhà to thêm mà người thân vắng đi là dấu hiệu nên dừng lại nhìn.
  • Việc đang chờ: hào hai và bốn cùng thấy sao giữa trưa, nghĩa là có những lúc mình bị che, không ai thấy cái mình làm. Lời hào khuyên giữ lòng tin và tìm người đồng chí hướng, không đi minh oan.

Quẻ trước, quẻ sau, quẻ lật, quẻ đối

Tự Quái viết: "Đắc kỳ sở quy giả tất đại", được chỗ về thì ắt lớn, nên sau Quy Muội (54) là Phong; "Phong giả đại dã; cùng đại giả tất thất kỳ cư, cố thụ chi dĩ Lữ", Phong là lớn, lớn tới cùng thì mất chỗ ở, nên tiếp theo là Lữ (56), người đi trọ. Thịnh tới tột cùng rồi phải lên đường xa nhà, câu chuyện ấy được kể ngay trong thứ tự hai quẻ.

Lật ngược Phong thì ra chính Lữ. Đổi hết âm dương thì ra Phong Thủy Hoán (59): Phong là đầy tụ, Hoán là tan ra. Quẻ hỗ là Trạch Phong Đại Quá (28): bên trong thời thịnh là một cái xà nhà đã cong vì gánh quá nặng.

☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Phong có phải quẻ tốt?

Lời quẻ là thông, thịnh. Nhưng Thoán truyện đi kèm lời nhắc mặt trời đứng bóng sẽ xế, nên quẻ tốt cho người biết sử dụng lúc thịnh, không cho người ngủ quên.

"Nhật trung kiến đẩu" nghĩa là gì?

Giữa trưa thấy sao Đẩu, tức trời tối sầm lúc đáng sáng nhất. Lời hào dùng hình ảnh này cho cảnh người tài bị che lấp.

Vì sao sau Phong lại là Lữ?

Tự Quái nói lớn tới cùng thì mất chỗ ở. Thịnh quá thì phải dời đi, nên quẻ người lữ khách đứng ngay sau.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Phong — Phong: hanh, vương cách chi; vật ưu, nghi nhật trung · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng truyện quẻ Phong — Nhật trung tắc trắc, nguyệt doanh tắc thực; Lôi điện giai chí, Phong; quân tử dĩ chiết ngục trí hình · Chu Dịch — Tự Quái truyện — Phong giả đại dã; cùng đại giả tất thất kỳ cư, cố thụ chi dĩ Lữ

Cả 64 quẻ

Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế