Quẻ Sơn Thủy Mông (4): non dại tìm thầy, hỏi một lần cho thành
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026
Non dại cần được dạy; người học phải tự tìm thầy, hỏi một lần cho thành.
Sơn Thủy Mông là quẻ số 4: Cấn (núi) ở trên, Khảm (nước) ở dưới. Mông là non dại, là chỗ còn mờ chưa sáng, và quẻ này bàn chuyện dạy với học. Lời quẻ có câu được người gieo quẻ nhắc nhiều nhất: hỏi lần đầu thì được bảo, hỏi đi hỏi lại hai ba lần là nhờn, nhờn thì không bảo nữa.
Tượng quẻ: suối mới ra dưới chân núi
Thoán truyện tả thế quẻ bằng sáu chữ: "sơn hạ hữu hiểm, hiểm nhi chỉ", dưới núi có chỗ hiểm, gặp hiểm thì dừng lại. Phía trước là nước sâu, phía sau là núi chắn; không biết nên đi đường nào, đó là cảnh của người chưa hiểu việc.
Đại Tượng nhìn cùng hình ấy theo hướng sáng hơn: nước Khảm dưới núi Cấn là con suối vừa chảy ra. Suối non chưa biết sẽ thành sông nào, nhưng nó đã chảy. Tình thế của người học cũng vậy: mờ mịt mà vẫn có sức đi.
Hai hào chủ của quẻ là Cửu Nhị và Lục Ngũ. Cửu Nhị là hào dương duy nhất của quẻ dưới, đóng vai người dạy; Lục Ngũ là hào âm ở ngôi tôn, đóng vai người học, và hai hào ứng nhau. Người học đứng ở ngôi cao, người dạy đứng dưới: Dịch cho thấy vai thầy không đi theo địa vị.
Lời quẻ và Thoán truyện
Mông: hanh. Phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã. Sơ phệ cốc, tái tam độc, độc tắc bất cốc. Lợi trinh.
Thông. Không phải ta đi tìm trẻ dại, mà trẻ dại tìm ta. Bói lần đầu thì bảo; hỏi lại hai lần ba lần là nhờn, nhờn thì không bảo. Lợi giữ chính.
Câu này nói cùng lúc về dạy học và về chính việc bói. Người dạy không chạy theo nài người học; người học phải tự đến, tự hỏi. Còn người gieo quẻ được dặn hỏi một lần cho nghiêm, không gieo lại tới khi ra quẻ vừa ý. Hai bài gieo lại quẻ và cách đặt câu hỏi khi gieo quẻ đều lấy câu này làm gốc.
Thoán truyện kết: "Mông dĩ dưỡng chính, thánh công dã", lúc còn mông muội mà nuôi được cái chính, đó là công của bậc thánh. Nghĩa là giáo dục buổi đầu quan trọng hơn mọi việc sửa chữa về sau.
Đại Tượng
Sơn hạ xuất tuyền, Mông; quân tử dĩ quả hành dục đức.
Dưới núi suối chảy ra; người quân tử theo đó lấy hành động quả quyết mà nuôi đức. Không đợi hiểu hết mới làm: làm cho dứt khoát, rồi hiểu dần trong khi làm.
Sáu hào
Sơ Lục. "Phát mông, lợi dụng hình nhân, dụng thoát chất cốc, dĩ vãng lận." Mở cái mông muội, lợi dùng phép răn người, rồi tháo gông cùm ra; cứ răn mãi thì hối tiếc. Buổi đầu cần kỷ luật rõ, nhưng kỷ luật là để tháo ra được chứ không phải để trói mãi.
Cửu Nhị. "Bao mông cát, nạp phụ cát, tử khắc gia." Bao dung kẻ non dại thì tốt, lấy vợ thì tốt, con gánh vác được nhà. Đây là người thầy có độ lượng; nhận người học như nhận người vào nhà.
Lục Tam. "Vật dụng thủ nữ, kiến kim phu, bất hữu cung, vô du lợi." Lời gốc dặn chớ lấy người thấy kẻ có vàng là không giữ được mình. Câu nói theo ngôn ngữ hôn nhân thời cổ; đọc hôm nay là chuyện đừng gắn việc lớn với người dễ bị lợi trước mắt kéo đi, nam hay nữ cũng thế.
Lục Tứ. "Khốn mông, lận." Kẹt trong mông muội, đáng tiếc. Hào này nằm xa cả hai hào dương, không có ai dạy gần; cái khó không do thiếu trí mà do thiếu người chỉ.
Lục Ngũ. "Đồng mông, cát." Non dại như trẻ nhỏ, tốt. Ở ngôi cao mà biết mình chưa biết, chịu hỏi người dưới, nên được hào này khen gọn.
Thượng Cửu. "Kích mông, bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu." Đánh vào cái mông muội; không lợi khi làm như giặc, lợi khi chống giặc. Dạy nghiêm được, nhưng nghiêm để ngăn cái sai chứ không để hành người học.
Gieo được quẻ Mông nên đọc thế nào
- Việc làm: thời của học việc, nhận việc mới, chuyển sang lĩnh vực chưa quen. Lời quẻ đặt trách nhiệm cho người học: tự tìm người giỏi mà hỏi. Nếu bạn đang ở vai người hướng dẫn, Cửu Nhị và Thượng Cửu là hai cách: bao dung và nghiêm khắc, mỗi cái đúng chỗ của nó.
- Quan hệ: quẻ này soi mối quan hệ thầy trò, cha mẹ con cái, người cũ người mới. Lục Tam nhắc xét người cùng mình có vững trước cái lợi không.
- Việc đang chờ: đừng gieo lại cùng một câu hỏi để mong lời khác. Câu trả lời của Mông là đi tìm hiểu thêm; chỗ mờ sẽ sáng dần khi biết thêm, không phải khi hỏi thêm lần nữa.
Mông đứng ở đâu trong chuỗi 64 quẻ
Quẻ liền trước là Thủy Lôi Truân (3). Tự Quái truyện giải chữ Mông là cái thuở còn thơ của muôn vật; mà thứ còn thơ thì không thể không nuôi, nên sau Mông là Thủy Thiên Nhu (5), quẻ của ăn uống và chờ đợi.
Lật ngược Mông ra Truân, đó là quẻ đảo; hai quẻ một cặp, một bên mầm mới nhú, một bên mầm cần dạy. Đổi hết hào thì ra quẻ đối Trạch Hỏa Cách (49): Mông là chưa biết, Cách là thay cũ đổi mới khi đã biết. Quẻ hỗ là Địa Lôi Phục (24), một hào dương sinh lại ở đáy, như trong cái mờ đã có mầm sáng.
☯️Gieo quẻ Kinh DịchGieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Câu hỏi thường gặp
Quẻ Mông là quẻ tốt hay xấu?
Lời quẻ mở bằng chữ "hanh", tức thông. Mông là trạng thái chưa biết, mà chưa biết thì học được; điều quẻ dè chừng là học sai thầy hoặc không chịu hỏi.
Có nên gieo lại khi ra quẻ Mông?
Chính lời quẻ Mông dặn hỏi một lần, hỏi lại là nhờn. Muốn rõ hơn thì đặt một câu hỏi khác, cụ thể hơn, vào lúc khác.
Vì sao người học lại ở hào Năm, ngôi cao nhất?
Để nói rằng ai ở vị trí nào cũng có lúc phải học. Hào Năm được khen vì biết hạ mình hỏi người dưới.
Câu "lợi dụng hình nhân" có phải khuyên trừng phạt?
Lời hào nói răn để tháo gông, dùng mãi thì hối tiếc. Ý chính là đặt nề nếp rõ ràng lúc đầu, rồi nới ra khi người học đã vững.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — kinh văn quẻ Mông — lời quẻ, sáu lời hào · Chu Dịch — Thoán truyện, Đại Tượng quẻ Mông — Sơn hạ hữu hiểm, hiểm nhi chỉ, Mông; Mông dĩ dưỡng chính, thánh công dã; Sơn hạ xuất tuyền, Mông · Chu Dịch — Tự Quái, Tạp Quái truyện · Chu Dịch Bản Nghĩa — Chu Hy
Cả 64 quẻ
Thuần CànThuần KhônThủy Lôi TruânSơn Thủy MôngThủy Thiên NhuThiên Thủy TụngĐịa Thủy SưThủy Địa TỷPhong Thiên Tiểu SúcThiên Trạch LýĐịa Thiên TháiThiên Địa BĩThiên Hỏa Đồng NhânHỏa Thiên Đại HữuĐịa Sơn KhiêmLôi Địa DựTrạch Lôi TùySơn Phong CổĐịa Trạch LâmPhong Địa QuanHỏa Lôi Phệ HạpSơn Hỏa BíSơn Địa BácĐịa Lôi PhụcThiên Lôi Vô VọngSơn Thiên Đại SúcSơn Lôi DiTrạch Phong Đại QuáThuần KhảmThuần LyTrạch Sơn HàmLôi Phong HằngThiên Sơn ĐộnLôi Thiên Đại TrángHỏa Địa TấnĐịa Hỏa Minh DiPhong Hỏa Gia NhânHỏa Trạch KhuêThủy Sơn KiểnLôi Thủy GiảiSơn Trạch TổnPhong Lôi ÍchTrạch Thiên QuảiThiên Phong CấuTrạch Địa TụyĐịa Phong ThăngTrạch Thủy KhốnThủy Phong TỉnhTrạch Hỏa CáchHỏa Phong ĐỉnhThuần ChấnThuần CấnPhong Sơn TiệmLôi Trạch Quy MuộiLôi Hỏa PhongHỏa Sơn LữThuần TốnThuần ĐoàiPhong Thủy HoánThủy Trạch TiếtPhong Trạch Trung PhuLôi Sơn Tiểu QuáThủy Hỏa Ký TếHỏa Thủy Vị Tế